Nghị quyết 27-NQ/TW: Tổ chức lại không gian phát triển, khơi thông nguồn lực mới

Sáng 3/9, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, quán triệt những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Phát triển vùng trở thành phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia

Trình bày chuyên đề, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, sau hơn 3 năm triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về phát triển vùng đã có chuyển biến; liên kết vùng từng bước được tăng cường, tiềm năng và lợi thế của các địa phương, vùng kinh tế từng bước được khai thác tốt hơn.

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn lực xã hội chưa được giải phóng đầy đủ; công tác quy hoạch còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là điểm nghẽn; việc hình thành các hành lang kinh tế, cụm ngành còn chậm. Một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò trung tâm, dẫn dắt và lan tỏa, trong khi liên kết vùng còn yếu và chưa thực sự hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 27-NQ/TW được ban hành nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế của các vùng, thúc đẩy liên kết, khai thác không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Theo Nghị quyết, phát triển vùng không chỉ là một phương thức khai thác lợi thế của từng địa phương mà được xác định là “phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới”.

Tư duy phát triển vì vậy cần chuyển mạnh từ dựa chủ yếu vào những nguồn lực sẵn có sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt các nguồn lực trong toàn xã hội. Trong đó, nguồn lực nội sinh giữ vai trò cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định, đồng thời kết hợp hiệu quả với nguồn lực bên ngoài, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu.

Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh của từng vùng; tăng cường tính bổ trợ, lan tỏa giữa các vùng, các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế.

Một trong những đột phá được nhấn mạnh là xây dựng cơ chế liên kết, phối hợp vùng mạnh, thực chất và hiệu quả, bảo đảm sự đồng bộ trong quy hoạch, đầu tư, kết cấu hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; đồng thời xác định rõ trách nhiệm, hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.

Hướng tới không gian phát triển đa tầng, đa cực, liên kết thông suốt

Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết 27-NQ/TW là cơ cấu lại, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng, bảo đảm đồng bộ với không gian phát triển quốc gia; phát huy tối đa lợi thế đặc thù, sức cạnh tranh và bản sắc văn hóa của từng vùng.

Qua đó, tăng cường vai trò dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt ra 22 chỉ tiêu cụ thể cho từng vùng, được xác định trên cơ sở tiềm năng, lợi thế so sánh, thực trạng phát triển và mức độ đóng góp vào phát triển chung của đất nước. Các vùng phải được kết nối hữu cơ, chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.

Tầm nhìn đến năm 2045 là hình thành các vùng vận hành trên nền tảng kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn; kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn và có khả năng chống chịu. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực tăng trưởng chủ yếu; liên kết giữa các địa phương, các vùng ngày càng chặt chẽ; hệ sinh thái phát triển được bảo đảm bền vững.

Đáng chú ý, Nghị quyết định hướng phát triển không gian kinh tế theo hướng đa tầng, đa cực, kết nối đất liền, biển, không gian trên không, lòng đất, không gian số và các không gian phát triển mới. Trong đó, các hành lang kinh tế được tiếp tục đầu tư để hình thành các trục giao thông, kinh tế kết nối các trung tâm kinh tế, đô thị, cảng biển; đồng thời kết nối các hành lang trong nước với hành lang khu vực và quốc tế.

Hạ tầng được đặt trong mối quan hệ đồng bộ với phát triển sản xuất. Đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số cần được phát triển cùng với các ngành công nghiệp trong nước. Cùng với đó là ưu tiên các tuyến trục Bắc - Nam, các hành lang Đông - Tây thế hệ mới, vận tải đa phương thức và logistics; từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng đô thị và xã hội.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thúc đẩy chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, tài chính, logistics, thương mại điện tử và du lịch chất lượng cao. Nông nghiệp được định hướng cơ cấu lại theo hướng công nghệ cao, sinh thái và bền vững.

10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tạo động lực phát triển mới

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Nghị quyết 27-NQ/TW xác định 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, bao quát từ tổ chức không gian, thể chế, hạ tầng đến nguồn nhân lực, môi trường, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị.

Thứ nhất, tổ chức lại không gian phát triển vùng và thực hiện hiệu quả quy hoạch vùng. Các quy hoạch vùng phải được triển khai đồng bộ với quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch ngành; ưu tiên nguồn lực cho những khâu đột phá, các cực tăng trưởng và hành lang kinh tế, qua đó tạo ra không gian phát triển có tính liên kết cao hơn.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế phát triển vùng, tạo cơ chế liên kết thực chất, hiệu quả. Nghị quyết xác định cơ chế phối hợp và huy động nguồn lực cho phát triển vùng là một khâu đột phá. Các cực tăng trưởng, đô thị động lực cần tham gia vào điều phối vùng; nguồn lực và lợi ích được chia sẻ trên cơ sở cùng phát triển. Đồng thời, tiếp tục đổi mới hoạt động của các Hội đồng điều phối vùng và thể chế hóa những chính sách liên kết vùng quan trọng.

Thứ ba, đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo động lực phát triển mới. Kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được thúc đẩy mạnh; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chủ yếu, xuyên suốt. Các động lực mới cần gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chuyển đổi nguồn nhân lực.

Thứ tư, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ và liên vùng. Nghị quyết xác định hạ tầng là ngành kinh tế chiến lược, trong đó hạ tầng giao thông, năng lượng, đô thị, cảng biển, hạ tầng số và hạ tầng khoa học - công nghệ cần được phát triển đồng bộ. Ưu tiên các công trình có tính kết nối liên vùng, tạo nền tảng cho các hành lang và cực tăng trưởng.

Thứ năm, phát triển hệ thống đô thị hiện đại, các cực tăng trưởng và vùng động lực. Phát triển đô thị gắn với các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, trung tâm kinh tế và các đô thị động lực; hình thành các mô hình đô thị xanh, thông minh, compact. Nghị quyết ưu tiên đầu tư hai cực tăng trưởng lớn là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm phát huy vai trò dẫn dắt và lan tỏa.

Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực phục vụ các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ cao, kinh tế số, logistics, tài chính, năng lượng và nông nghiệp công nghệ cao; thu hút chuyên gia, nhà khoa học và nhân tài. Đồng thời, phát triển các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, khu công nghệ số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng.

Thứ bảy, phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng đời sống và bảo đảm an sinh xã hội. Văn hóa được xác định là nguồn lực phát triển, gắn với bảo tồn bản sắc và phát huy các giá trị truyền thống. Nghị quyết định hướng phát triển các trục di sản, văn hóa, du lịch liên vùng và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới. Cùng với đó là xây dựng hệ thống y tế hiện đại, kết nối và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện, bao trùm.

Thứ tám, tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước. Các vùng cần hoàn thiện cơ chế, quy hoạch và hệ thống dữ liệu về tài nguyên, môi trường, khí hậu; tăng cường phối hợp liên vùng trong phòng, chống thiên tai, kiểm soát ô nhiễm và xử lý chất thải. Đồng thời, quản lý bền vững đất đai, khoáng sản, tài nguyên biển, rừng và các hệ sinh thái; chủ động ứng phó với sụt lún, sạt lở, ngập lụt, hạn hán và xâm nhập mặn.

Thứ chín, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Nghị quyết yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp đặc điểm từng vùng, nhất là các địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo; phát triển các công trình lưỡng dụng, khu kinh tế - quốc phòng. Đồng thời, tăng cường hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế về kết nối vùng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thương mại, đầu tư, du lịch và phát triển hạ tầng.

Thứ mười, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản trị. Nghị quyết nhấn mạnh tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm từng vùng, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Cùng với đó là xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm một trong những thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy.

Tạo chuyển biến căn bản trong tổ chức không gian phát triển

Nghị quyết 27-NQ/TW phân công cụ thể trách nhiệm tổ chức thực hiện cho các cấp ủy, tổ chức Đảng, các tỉnh, thành phố; Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương cùng các cơ quan liên quan.

Nghị quyết 27-NQ/TW đồng thời thay thế 6 nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội, gồm Nghị quyết số 11-NQ/TW, 13-NQ/TW, 23-NQ/TW, 24-NQ/TW, 26-NQ/TW và 30-NQ/TW.

Theo nội dung chuyên đề được quán triệt tại Hội nghị, Nghị quyết 27-NQ/TW “thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới về tổ chức lại không gian phát triển quốc gia và phát triển 06 vùng kinh tế - xã hội”, hướng tới thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và hai mục tiêu kép 100 năm trong kỷ nguyên phát triển mới.

Việc nghiên cứu, học tập và quán triệt sâu sắc Nghị quyết là cơ sở để các cấp, các ngành và địa phương thống nhất nhận thức, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả, qua đó tạo chuyển biến trong tổ chức lại không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng và phát huy tốt hơn các nguồn lực cho phát triển đất nước.

Hoàng Dương

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/nghi-quyet-27-nq-tw--to-chuc-lai-khong-gian-phat-trien--khoi-thong-nguon-luc-moi-547011.htm