Nghị quyết 57 trên cao nguyên đá - Bài 2: Trưởng thôn Sình Dỉ Gai và hành trình đưa Lô Lô Chải bước vào nhịp sống số
Mười lăm năm trước, khi Sình Dỉ Gai bắt đầu gánh việc thôn, Lô Lô Chải vẫn là một bản nghèo dưới chân Cột cờ Lũng Cú. Phần lớn sinh kế của người dân gắn với nương rẫy trên cao nguyên đá, trong khi hạ tầng, kết nối thông tin và thị trường du lịch còn nhiều hạn chế.

LONGFORM - THÁNG 10.2026
Mười lăm năm trước, khi Sình Dỉ Gai bắt đầu gánh việc thôn, Lô Lô Chải vẫn là một bản nghèo dưới chân Cột cờ Lũng Cú. Phần lớn sinh kế của người dân gắn với nương rẫy trên cao nguyên đá, trong khi hạ tầng, kết nối thông tin và thị trường du lịch còn nhiều hạn chế.
Hôm nay, nhiều ngôi nhà trình tường đã tham gia hoạt động du lịch, khách trong nước và quốc tế tìm đến ngày một đông; cùng với đó, những công việc từ khai báo lưu trú, truyền đạt chính sách đến trao đổi giữa các hộ dân cũng dần có thêm một lớp vận hành trên môi trường số.
Ở giữa quá trình thay đổi ấy, Trưởng thôn Sình Dỉ Gai vẫn là người đi từng nhà khi cần, họp dân khi có việc và cùng bà con bàn chuyện của bản. Nhưng bên cạnh những cách làm quen thuộc, trong tay ông giờ có thêm chiếc điện thoại thông minh, nhóm Zalo của thôn và những nền tảng số hỗ trợ hoạt động du lịch.

Cột cờ Lũng Cú là cột cờ quốc gia nằm ở đỉnh Lũng Cú, còn gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn), có độ cao 1.470m so với mực nước biển, thuộc xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Trọng Đạt – TTXVN
Câu chuyện Lô Lô Chải vì thế gợi ra một lát cắt khá cụ thể về chuyển đổi số ở vùng cao: không bắt đầu từ những khái niệm quá xa xôi, mà từ việc thay đổi cách truyền thông tin, cách tổ chức công việc và khả năng để chính người dân từng bước sử dụng công nghệ phục vụ sinh kế của mình.
Từ một bản nghèo đến bài toán thay đổi cách làm
Sình Dỉ Gai nhớ khá rõ năm 2011, khi ông bắt đầu làm trưởng thôn Lô Lô Chải. Theo số liệu ông cung cấp, toàn thôn khi ấy có hơn 100 hộ, trong đó 76 hộ thuộc diện nghèo. Sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điều kiện hạ tầng còn nhiều khó khăn, lượng khách du lịch tới bản chưa đáng kể.
“Hồi đó làm sao dám nghĩ có ngày cả bản sống được nhờ du lịch”, ông kể.
Ý nghĩ về một con đường phát triển khác đã xuất hiện từ trước đó. Năm 2009, trong một chuyến đi học tập kinh nghiệm tại một số điểm du lịch cộng đồng ở Lào Cai, Sình Dỉ Gai lần đầu tận mắt thấy người dân miền núi có thể kết hợp giữ nếp nhà, làm nông nghiệp với đón khách và tạo thêm thu nhập.

Một góc không gian văn hóa làng du lịch tốt nhất thế giới - Lô Lô Chải (Lủng Cú, Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ - TTXVN
Trở về Lô Lô Chải, điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất là khoảng cách giữa tiềm năng và đời sống thực tế. Bản nằm gần Cột cờ Lũng Cú, có kiến trúc nhà trình tường, trang phục, ngôn ngữ và những phong tục riêng của người Lô Lô. Những giá trị ấy hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày, nhưng khi đó hầu như chưa được tổ chức thành sản phẩm du lịch.
Năm 2011, ông cùng hai hộ khác bắt đầu thử làm lưu trú tại nhà dân. Cơ sở vật chất ban đầu rất đơn giản: vài chiếc phản, chiếu, chăn và gối. Chưa có kinh nghiệm quản trị, ít thông tin thị trường, người dân vừa làm vừa học.
Trở ngại lớn thời điểm ấy là kết nối. Internet gần như chưa hiện diện trong đời sống của thôn như bây giờ; Facebook, Zalo hay các nền tảng đặt phòng chưa trở thành công cụ quen thuộc. Muốn tìm khách, Sình Dỉ Gai phải trực tiếp xuống khu vực trung tâm, gặp các đơn vị lữ hành, giới thiệu bản và tạo những mối liên hệ đầu tiên.
“Lúc đó có chiếc điện thoại nghe gọi được đã là tốt. Muốn người ta đưa khách lên thì phải xuống tận nơi tìm gặp, nói chuyện”.
- Ông Sình Dỉ Gai, Trưởng thôn Lô Lô Chải.

Ông Sình Dỉ Gai, Trưởng thôn Lô Lô Chải
Nhìn lại chặng đường ấy, sự khác biệt giữa Lô Lô Chải những năm đầu làm du lịch và hiện nay đến từ nhiều yếu tố: đường sá, hạ tầng được cải thiện; khách biết tới Cao nguyên đá nhiều hơn; các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng được triển khai; người dân cũng tích lũy thêm kinh nghiệm. Nhưng có một thay đổi ngày càng rõ: cách thông tin được tạo ra, truyền đi và sử dụng đã khác trước rất nhiều.
Khi chiếc điện thoại thay đổi cách vận hành một bản du lịch
Sình Dỉ Gai lấy việc khai báo lưu trú làm ví dụ. Những năm đầu đón khách, khi có đoàn tới nghỉ qua đêm, việc thực hiện các thủ tục liên quan thường tốn nhiều thời gian. Chủ homestay phải chuẩn bị thông tin, phối hợp với cơ quan chức năng; địa hình xa và việc đi lại khiến một thủ tục tưởng như đơn giản cũng trở nên bất tiện.
Hiện nay, nhiều thao tác đã có thể thực hiện trên môi trường điện tử. Cán bộ xã và lực lượng công an hướng dẫn các hộ kinh doanh khai báo lưu trú qua những nền tảng được triển khai theo quy định. Chủ nhà dần quen với việc dùng điện thoại thông minh để nhập hoặc cung cấp thông tin khách thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào giấy tờ và việc đi lại trực tiếp.
Với một điểm du lịch cộng đồng có nhiều cơ sở lưu trú, thay đổi ấy đem lại lợi ích cụ thể: giảm thời gian, thuận tiện hơn cho hộ kinh doanh và hỗ trợ công tác quản lý.

‹ Prev1/4 Next ›

‹ Prev2/4 Next ›

‹ Prev3/4 Next ›

‹ Prev4/4 Next ›

‹ Prev1/4 Next ›

‹ Prev2/4 Next ›

‹ Prev3/4 Next ›

‹ Prev4/4 Next ›
Nơi địa đầu cực Bắc của Tổ quốc, Lũng Cú (Tuyên Quang) cuốn hút du khách bởi vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, chiều sâu văn hóa các dân tộc vùng cao và nhịp sống bình yên nơi biên cương. Sau sáp nhập, vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ, hướng tới phát triển du lịch xanh, bền vững, gắn bảo tồn bản sắc với tạo sinh kế và nâng cao đời sống người dân. Ảnh: Đức Thọ - TTXVN
Nhóm Zalo chung của thôn là một ví dụ khác. Trước đây, mỗi khi có chủ trương, chính sách hay công việc cần thông báo, Trưởng thôn chủ yếu dựa vào họp dân, loa truyền thanh hoặc trực tiếp chuyển thông tin tới từng hộ. Những cách ấy vẫn cần thiết, nhất là với người lớn tuổi hoặc hộ chưa sử dụng thành thạo thiết bị số, nhưng nay đã có thêm một kênh bổ trợ.
Sình Dỉ Gai đưa thông báo, hướng dẫn và những nội dung cần triển khai lên nhóm để các hộ có điện thoại thông minh nắm thông tin sớm hơn. Nếu có điểm chưa rõ, người dân có thể trao đổi trước, sau đó tiếp tục làm rõ trong cuộc họp hoặc qua cán bộ thôn.

Ông Sình Dỉ Gai bên làng Lô Lô Chải
Nhìn lại chặng đường ấy, sự khác biệt giữa Lô Lô Chải những năm đầu làm du lịch và hiện nay đến từ nhiều yếu tố: đường sá, hạ tầng được cải thiện; khách biết tới Cao nguyên đá nhiều hơn; các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng được triển khai; người dân cũng tích lũy thêm kinh nghiệm. Nhưng có một thay đổi ngày càng rõ: cách thông tin được tạo ra, truyền đi và sử dụng đã khác trước rất nhiều.
“Tôi gửi những nội dung cần thiết lên nhóm để bà con biết trước. Khi họp thì mình tiếp tục giải thích. Có cái đọc trên điện thoại trước rồi nên trao đổi cũng nhanh hơn”, ông nói.
Thay đổi ấy tưởng nhỏ nhưng phản ánh một nguyên tắc quan trọng của chuyển đổi số: công nghệ có giá trị khi rút ngắn khoảng cách thông tin và giúp người sử dụng chủ động hơn.
Ở Lô Lô Chải, người dân làm du lịch cần biết quy định về lưu trú, an ninh, vệ sinh môi trường, xây dựng, giá dịch vụ và nhiều vấn đề khác. Khi thông tin tới hộ dân nhanh hơn và có thể được lưu lại trên thiết bị, việc thực hiện cũng thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, Sình Dỉ Gai không cho rằng một nhóm Zalo đồng nghĩa với việc thôn đã “chuyển đổi số thành công”. Theo ông, vấn đề khó hơn nằm ở khả năng sử dụng công nghệ của từng hộ không đồng đều. Người trẻ tiếp cận nhanh, người lớn tuổi cần được hướng dẫn nhiều lần. Có người sử dụng điện thoại thành thạo để trao đổi với khách, nhưng cũng có hộ vẫn chủ yếu dựa vào con cháu.
Chính khoảng cách đó cho thấy chuyển đổi số ở vùng cao phải gắn chặt với nâng cao kỹ năng số, chứ không thể dừng ở việc cung cấp nền tảng. Người dân cần biết thao tác, hiểu thông tin nào được phép chia sẻ, biết bảo vệ dữ liệu cá nhân và từng bước sử dụng công nghệ để phục vụ chính công việc, sinh kế của mình.
“Người biết thì chỉ cho người chưa biết. Việc gì làm trên điện thoại được thì mình hướng dẫn bà con làm dần. Không thể bắt tất cả mọi người giỏi ngay”.
- Ông Sình Dỉ Gai, Trưởng thôn Lô Lô Chải.
Từ thông tin số tới giá trị kinh tế
Sau hơn một thập niên phát triển du lịch, Lô Lô Chải đã thay đổi khá nhiều. Theo số liệu Sình Dỉ Gai cung cấp, thôn hiện có 179 hộ, trong đó hàng chục hộ trực tiếp kinh doanh homestay; nhiều gia đình khác tham gia cung ứng thực phẩm, chăn nuôi, trồng rau, nấu rượu hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan.
Số hộ nghèo cũng giảm mạnh so với thời điểm ông bắt đầu làm trưởng thôn. Những thay đổi này trước hết phản ánh tác động của một quá trình phát triển du lịch kéo dài nhiều năm, với sự tham gia của người dân, chính quyền, doanh nghiệp và các chương trình hỗ trợ. Sẽ không chính xác nếu quy toàn bộ thành quả đó cho công nghệ.

Các ngôi nhà trong Làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải. Ảnh: Minh Tâm-TTXVN
Nhưng trong giai đoạn mới, công nghệ có thể ảnh hưởng trực tiếp tới việc một điểm đến khai thác thị trường hiệu quả đến đâu. Một hộ lưu trú biết quản lý đặt phòng trực tuyến có thể chủ động hơn về lượng khách. Người sản xuất biết giới thiệu hàng hóa trên môi trường số có thêm cơ hội tiếp cận thị trường. Một cộng đồng tổng hợp được phản hồi của du khách có cơ sở tốt hơn để điều chỉnh dịch vụ.
Điện thoại vì vậy đang dần chuyển từ một công cụ liên lạc thành một phần của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong du lịch.
Nghị quyết 57 đặt dữ liệu vào vị trí một nguồn lực quan trọng. Với một điểm đến cộng đồng như Lô Lô Chải, điều này gợi ra những câu hỏi rất thực tế: có bao nhiêu khách đang tới bản, họ đến từ đâu, lưu trú bao lâu, thường sử dụng dịch vụ gì, phản hồi ra sao, thời điểm nào quá tải và sản phẩm nào được quan tâm nhiều nhất?
Nếu các thông tin ấy được thu thập, tổng hợp và sử dụng tốt, quản lý du lịch sẽ bớt phụ thuộc vào cảm tính.

Ngày 17/10/2025, tại Trung Quốc, Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) tổ chức Lễ trao Giải thưởng “Làng Du lịch tốt nhất 2025”. Thôn Lô Lô Chải (tỉnh Tuyên Quang) và Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn (tỉnh Lạng Sơn) của Việt Nam được trao giải. Ảnh: TTXVN
Lô Lô Chải hiện mới ở những bước cơ bản của quá trình này. Khai báo lưu trú điện tử giúp hình thành thông tin chính xác hơn về khách; các kênh trao đổi số giúp truyền tải quy định nhanh hơn; các hộ dân ngày càng quen với việc sử dụng điện thoại trong kinh doanh.
Bước tiếp theo cần hướng tới là giúp cộng đồng sử dụng dữ liệu và nền tảng số sâu hơn: giới thiệu dịch vụ chính xác, quản lý đặt phòng, tiếp nhận phản hồi, quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường và từng bước nhận biết sức tải của điểm đến.
Ở đây, một hộ có thể biết hôm nay mình còn phòng hay đã kín phòng, nhưng câu hỏi ở cấp cộng đồng còn rộng hơn: cả bản đang đón bao nhiêu khách, vào thời điểm nào hạ tầng bắt đầu chịu sức ép, những vấn đề nào được khách phản ánh nhiều và dịch vụ nào có khả năng giữ khách ở lại lâu hơn?
Đó là bước chuyển từ sử dụng công nghệ cho từng thao tác sang sử dụng dữ liệu để hỗ trợ quản trị.

Những cây hoa đào nở rộ ở thôn Lô Lô Chải. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Công nghệ không thể chỉ nằm trong tay trưởng thôn
Nhìn lại 15 năm, hành trình của Sình Dỉ Gai có thể chia thành hai giai đoạn khá rõ. Thời kỳ đầu là hành trình đi tìm thị trường bằng cách rất thủ công: xuống tận trung tâm gặp đơn vị lữ hành, thuyết phục từng hộ thử làm homestay, học từ những điểm du lịch khác rồi mang kinh nghiệm về bản.
Giai đoạn hiện nay đặt ra một bài toán khác: làm sao để cả cộng đồng tham gia vào một môi trường du lịch ngày càng số hóa.
Chiếc điện thoại trong tay người trưởng thôn vì thế mang ý nghĩa khác trước. Nó không đơn thuần dùng để gọi điện mà trở thành công cụ truyền đạt thông tin, phối hợp công việc, thực hiện một số thủ tục và kết nối cộng đồng.
Nhưng theo trưởng thôn Sình Dỉ Gai, chuyển đổi số ở Lô Lô Chải sẽ chưa trọn vẹn nếu công nghệ chỉ nằm trong tay trưởng thôn hoặc một số người trẻ. Một bản có hàng chục cơ sở tham gia dịch vụ không thể phụ thuộc vào một người để trả lời mọi câu hỏi, quảng bá mọi sản phẩm hay hướng dẫn mọi thao tác.

Mái ngói âm dương, đặc trưng nhà của người Lô Lô ở bản Lô Lô Chải. Ảnh: Khánh Hoà – TTXVN
Thước đo quan trọng hơn nằm ở việc ngày càng có bao nhiêu hộ dân biết sử dụng công nghệ an toàn và hiệu quả; bao nhiêu thanh niên có khả năng tạo nội dung, giới thiệu sản phẩm; bao nhiêu cơ sở lưu trú biết sử dụng phản hồi của khách để cải thiện dịch vụ.
Đó là bước chuyển từ “một người biết làm” sang “một cộng đồng có năng lực số”.
Nghị quyết 57 đặt người dân và doanh nghiệp vào vị trí chủ thể của quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ở Lô Lô Chải, khái niệm “chủ thể” có thể được đo bằng những việc rất đời thường: một chủ homestay có tự thực hiện được thao tác cần thiết hay không; một người bán sản phẩm có biết giới thiệu hàng hóa; một người trẻ có thể hỗ trợ người lớn tuổi; người dân có hiểu rủi ro khi chia sẻ dữ liệu hay không.
Nếu những khả năng ấy tăng lên, công nghệ mới thực sự trở thành năng lực của bản.

Phụ nữ Lô Lô tỉ mỉ thêu thổ cẩm, gìn giữ tinh hoa nghề truyền thống, tạo sản phẩm phục vụ du lịch cộng đồng. Ảnh: Minh Tâm-TTXVN
Từ “được kết nối” tới “biết kết nối”
Mười lăm năm trước, điều khó của Lô Lô Chải là đưa câu chuyện của một bản nhỏ ra bên ngoài. Hôm nay, khoảng cách địa lý đã được công nghệ rút ngắn đáng kể.
Nhưng vấn đề mới cũng xuất hiện: có mặt trên môi trường số chưa đồng nghĩa với biết khai thác môi trường số.
Một điểm đến có thể nổi tiếng nhanh nhưng vẫn phụ thuộc vào nền tảng hoặc người trung gian. Một hộ có thể nhận nhiều khách nhưng chưa biết quản lý thông tin. Một sản phẩm có thể xuất hiện trên mạng nhưng chưa đủ điều kiện trở thành hàng hóa ổn định.

Một góc làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải nhộn nhịp, thu hút du khách đến tham quan, trải nghiệm. Ảnh: Minh Tâm-TTXVN
Vì vậy, bước chuyển tiếp theo của Lô Lô Chải không đơn giản là “số hóa thêm”, mà là học cách sử dụng công nghệ có mục đích: việc nào cần được giải quyết nhanh hơn, thông tin nào cần minh bạch hơn, dữ liệu nào cần được tổng hợp và kỹ năng nào người dân phải tự nắm được.
Ở đó, chiếc điện thoại trong tay Sình Dỉ Gai không chỉ là biểu tượng của sự thay đổi. Điều quan trọng hơn là ngày càng có thêm nhiều chiếc điện thoại trong tay người dân được sử dụng như công cụ làm việc.
Khi một cộng đồng chuyển từ trạng thái “được kết nối” sang “biết kết nối”, từ nhận thông tin sang sử dụng thông tin để giải quyết công việc và tạo giá trị, chuyển đổi số mới thực sự đi vào đời sống của bản.
- CÒN NỮA -
Bài viết và trình bày: HUY THÔNGẢnh tư liệu: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM BÁO THỂ THAO VÀ VĂN HÓA

