NGHỊ QUYẾT 80-NQ/TW: 'CHÌA KHÓA' GIẢI PHÓNG NGUỒN LỰC VĂN HÓA HUẾ - KỲ 3: Nghẽn ở khâu tổ chức

Tài nguyên dồi dào, ý tưởng đã có, người muốn làm không thiếu. Điều Huế còn thiếu là một guồng máy thông suốt để những nguồn lực ấy gặp nhau, hình thành sản phẩm và đi ra thị trường.

Để có một gian hàng giới thiệu sản phẩm, chị Phan Ngọc Hiếu - nhà sáng lập thương hiệu hoa giấy thủ công Maypaperflower nhiều khi phải tự tìm đến những hội chợ quy mô, tiềm năng. Có lúc, chị chấp nhận đổi sản phẩm để được một gian hàng quảng bá miễn phí.

Tìm vốn cũng không dễ. Dù chủ trương đã có văn bản “tạo điều kiện” cho doanh nghiệp, nhưng khi tìm đến ngân hàng, chị nhận được câu trả lời “chưa triển khai”. Maypaperflower phải tự tìm cơ hội qua các chương trình, cuộc thi và nhận nguồn vốn không hoàn lại từ một số tổ chức, dự án mới có thêm nguồn lực phát triển.

Đã vậy, khi tìm đầu ra, doanh nghiệp lại khó tiếp cận đầy đủ thông tin về các sự kiện văn hóa, du lịch tại địa phương. Muốn đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế, theo chị, doanh nghiệp vẫn phải dựa nhiều vào các trung tâm xúc tiến hoặc các hiệp hội nghề nghiệp trong cả nước.

Những việc tưởng thuộc các khâu khác nhau thực chất nằm trong cùng một chuỗi: vốn, sản xuất, tiêu chuẩn hóa, xúc tiến, thông tin thị trường và đầu ra. Chỉ cần thiếu vắng một mắt xích, doanh nghiệp phải tự xoay xở bù vào.

Với chị Hồ Thị Sương Lan, CEO thương hiệu thủ công mỹ nghệ Maries tại Huế, sự thiếu hụt ấy cũng hiện ra rất cụ thể. Thành phố thiếu nhà cung cấp vải tốt, thiếu dịch vụ sửa chữa máy may chuyên nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ lại có quy mô rất nhỏ nên mỗi chi phí phát sinh đều tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp.

Do vậy, Maries phải hợp tác với trường đại học để nghiên cứu những vấn đề như nhuộm màu bền vững hay chống ẩm mốc cho sợi tự nhiên. Nhưng muốn hợp tác hiệu quả phải có bên đặt hàng, bên nhận hàng và một cơ chế để kết quả nghiên cứu đi từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm.

Maries dành khoảng 15% doanh thu cho nghiên cứu - phát triển và tham gia các hội chợ chuyên ngành quốc tế. Doanh nghiệp phải tự tìm cơ hội bằng cách ghép đoàn, tự trả chi phí, đóng gói hàng hóa và trang trí gian hàng.

Những câu chuyện trên không chỉ cho thấy khó khăn của từng doanh nghiệp, mà còn chỉ rõ, các mắt xích của một chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa vẫn đang vận hành khá rời rạc.

Ông Cung Trọng Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Huế, Giám đốc Hue Innovation Hub khẳng định, nếu phải chọn một điểm nghẽn thì đó là sự kết nối giữa các nguồn lực chưa đủ mạnh. Nhiều sáng kiến và mô hình mới đã hình thành, một số sản phẩm sáng tạo có sự tham gia của nhiều bên, nhưng phần lớn vẫn là những kết quả đơn lẻ, chưa đủ để hình thành một hệ sinh thái.

Theo TS.KTS Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam (S-DCI), điểm yếu hiện nay nằm ở khâu kết nối và thương mại hóa. Khi thiếu một mắt xích kết nối đủ mạnh, ý tưởng dễ dừng lại ở một sản phẩm đơn lẻ, một dự án ngắn hạn hoặc một sự kiện; giá trị chưa được nối thành chuỗi sản phẩm và chưa hình thành mô hình kinh doanh có khả năng tồn tại lâu dài.

Vấn đề, vì thế, không chỉ là hỗ trợ thêm cho từng doanh nghiệp. Xâu sa hơn, Huế đã có một cơ chế đủ hiệu quả để người sáng tạo, nghệ nhân, nhà khoa học, doanh nghiệp, nguồn vốn và thị trường tìm thấy nhau hay chưa. Nếu mỗi chủ thể vẫn phải tự giải bài toán của mình sẽ rất khó hình thành chuỗi giá trị văn hóa hoàn chỉnh. Huế không hẳn thiếu các mắt xích; điều còn thiếu là một cơ chế để những mắt xích ấy vận hành, tạo giá trị.

Nếu ở cấp độ sản phẩm, điểm nghẽn nằm ở sự đứt gãy giữa các chủ thể thì ở cấp độ dự án, vấn đề lại thể hiện ở khả năng phối hợp giữa nhiều lĩnh vực quản lý.

Dự án NAMMA tại đường Nguyễn Chí Diểu, phường Phú Xuân, là một trong 17 dự án chậm tiến độ được TP. Huế theo dõi.

Dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư lần đầu năm 2015, điều chỉnh năm 2017, do Công ty TNHH Đầu tư du lịch Kinh Thành làm chủ đầu tư. Trên diện tích khoảng 6.384m², dự án có vốn đầu tư 196,56 tỷ đồng, thời hạn hoạt động 50 năm, định hướng xây dựng khu nghỉ dưỡng tiêu chuẩn 6 sao. Dự kiến khởi công năm 2017, hoàn thành năm 2018, nhưng đến thời điểm thanh tra vẫn chưa triển khai.

Dự án nằm trong vùng lõi Di sản văn hóa thế giới, liên quan các yêu cầu về quy hoạch, đất đai, kiến trúc, bảo tồn. Trong quá trình thực hiện, nhà đầu tư và cơ quan chức năng còn thiếu phối hợp, phát sinh tồn tại về đầu tư, đất đai, quy hoạch.

Thanh tra thành phố kiến nghị các cơ quan chức năng rà soát các điều kiện để xem xét khả năng tiếp tục; nếu không thể tháo gỡ, thực hiện thủ tục chấm dứt dự án theo quy định.

NAMMA được đặt ra không nhằm quy nguyên nhân chậm tiến độ cho riêng cơ chế phối hợp, mà cho thấy sự phức tạp của một dự án trong không gian di sản, nơi chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực quản lý.

Không riêng trường hợp NAMMA, với những dự án nằm trong không gian vừa phải bảo tồn, vừa đặt ra yêu cầu phát triển, sự thận trọng của nhà đầu tư là điều dễ hiểu khi một ý tưởng phải đi qua nhiều lĩnh vực quản lý.

Liên quan đến cái khó khi triển khai dự án vùng di sản, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Hoàng Việt Trung cho rằng, thách thức hiện nay nằm ở việc đưa một định hướng, một ý tưởng thành chương trình, dự án và sản phẩm có thể thực hiện trong thực tế.

Với di sản, mỗi mô hình phát triển thường liên quan nhiều lĩnh vực, nhiều chủ thể. Cơ quan quản lý, nhà đầu tư, người làm văn hóa, cộng đồng và các đơn vị chuyên môn phải cùng tham gia, trong khi ranh giới trách nhiệm và cơ chế phối hợp chưa phải lúc nào cũng rõ.

Điểm nghẽn tổ chức không chỉ xuất hiện ở những dự án lớn. Nó còn nằm ở năng lực thực thi của bộ máy, nhất là khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành và khối lượng công việc cơ sở tăng lên.

Theo đồng chí Hoàng Khánh Hùng, UVTV Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, ở cơ sở, địa bàn rộng, khối lượng di sản lớn nhưng nguồn lực bảo tồn, tôn tạo và phát triển các thiết chế văn hóa còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ phụ trách văn hóa cấp cơ sở còn mỏng, nhiều nơi kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực nên việc triển khai một số nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn.

Một khi phân cấp mạnh hơn mà năng lực thực thi không được nâng lên tương ứng, điểm nghẽn có nguy cơ chuyển từ cấp trên xuống cấp dưới mà không được giải quyết, tháo gỡ. Vì thế, phân cấp không chỉ là chuyển nhiệm vụ, mà phải đi cùng thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ và năng lực chuyên môn tương ứng.

Ví như, yêu cầu quản trị văn hóa thời kỳ mới còn đến từ xu hướng chuyển đổi số. AI, dữ liệu lớn, bảo tồn số, công nghệ 3D/AR/VR/XR, quản trị bản quyền số, an ninh mạng và sáng tạo nội dung số đều cần nhân lực có chuyên môn phù hợp. Trong khi đó, việc đặt hàng đào tạo, hợp đồng chuyên gia, tuyển dụng theo dự án và đồng tài trợ công - tư để hình thành lực lượng này còn hạn chế.

Công tác xã hội hóa cũng cho thấy cùng một vấn đề: Cơ chế thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư vào hoạt động văn hóa, nghệ thuật chưa đủ mạnh; một số chuỗi hoạt động thiếu chiến lược dài hạn để hình thành thương hiệu; hành lang cho hợp tác công - tư và quy trình tổ chức các sự kiện lớn còn những hạn chế.

Như vậy, điểm nghẽn không chỉ là thiếu người, thiếu tiền hay thiếu công nghệ. Đó là khoảng cách giữa yêu cầu nhiệm vụ mới với năng lực tổ chức thực thi. Muốn chính sách hiệu quả ở cơ sở, cùng với phân cấp phải có đào tạo, công cụ, dữ liệu, hướng dẫn và cơ chế huy động chuyên gia tương ứng; đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành để cán bộ dám làm trong khuôn khổ pháp luật.

Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa, lãnh đạo Trung ương nêu những “khoảng trống” cần được nhìn nhận, trong đó có sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa trong môi trường số; khả năng chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo; năng lực tạo ra sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh; cùng thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa.

Ngược thời gian, việc đề xuất tổ chức show thực cảnh tại cồn Dã Viên là một ví dụ rất thực tế.

Cách đây vài năm, một số nhà đầu tư từng tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu tổ chức show thực cảnh tại Huế. Cồn Dã Viên là “ứng viên sáng giá”. Khi ấy, một doanh nghiệp du lịch tiềm năng tại địa phương cho biết, địa điểm triển khai cơ bản được xác định nhưng cần thêm thời gian nghiên cứu, chạy thử. Tuy nhiên, từ ý tưởng đến một dự án cụ thể là một hành trình khác, đến bây giờ, ý tưởng vẫn chưa được hiện thực hóa khiến nhiều người nuối tiếc khi vuột mất cơ hội.

Khi một dự án cùng lúc liên quan đến không gian di sản, quy hoạch, đất đai, đầu tư, văn hóa và du lịch, việc triển khai không thể chỉ phụ thuộc vào một ngành. Điều cần nhìn lại không phải là quy trách nhiệm cho một cơ quan hay cá nhân, mà là cách tổ chức quá trình ra quyết định. Với một dự án liên ngành, mỗi cơ quan có thể hoàn thành phần việc thuộc chức năng của mình, nhưng nếu không có một đầu mối chịu trách nhiệm kết nối toàn bộ quá trình thì câu hỏi cuối cùng vẫn bỏ ngỏ: dự án có đi được đến sản phẩm hay không?

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, điều cần thay đổi trước hết là cách quản trị theo kết quả và tác động. Một chương trình văn hóa phải xác định được sản phẩm cuối cùng; một dự án phải có người chịu trách nhiệm; nguồn vốn phải gắn với mục tiêu; cơ chế phải nói rõ ai được làm, làm thế nào và chịu trách nhiệm ra sao.

Đó cũng là những câu hỏi cần đặt ra với từng chương trình, dự án công nghiệp văn hóa của Huế: Ai chủ trì? Ai có quyền quyết định trong phạm vi được giao? Các cơ quan phối hợp phải hoàn thành phần việc trong thời hạn nào? Sản phẩm cuối cùng là gì? Nếu công việc không hoàn thành thì ai chịu trách nhiệm?

Càng nhiều cơ quan cùng tham gia, càng cần một đầu mối đủ thẩm quyền và trách nhiệm điều phối đến cùng. Nếu không, sự phối hợp rất dễ trở thành vòng quay của xin ý kiến, chờ ý kiến và chuyển ý kiến, trong khi đó, cơ hội thị trường không chờ quy trình hành chính.

Đây cũng là điều mà Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh: chủ trương phải đi vào dự án; dự án phải tạo ra sản phẩm; sản phẩm phải ra thị trường; còn giá trị tạo ra từ thị trường phải tiếp tục quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo, cộng đồng và di sản.

Huế có một nền tảng văn hóa đặc biệt, có đội ngũ sáng tạo, nghệ nhân, nghệ sĩ và những doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường văn hóa. Điều cần được lấp đầy là năng lực tổ chức để nối những nguồn lực đang phân tán thành một chuỗi vận hành, trong đó mỗi chủ thể biết mình làm gì, phối hợp với ai và chịu trách nhiệm đến đâu.

Nhận diện điểm nghẽn chỉ là một phần nhỏ của câu chuyện. Câu hỏi lớn hơn là liệu đã có những mô hình nào chứng minh tài nguyên văn hóa có thể bước vào thị trường, tạo việc làm, thu nhập, tái đầu tư cho cộng đồng cùng di sản? Tuy chỉ là điểm sáng đơn lẻ, song “hạt mầm” ấy đã bắt đầu bén rễ vươn lên.

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/e-magazine/nghi-quyet-80-nq-tw-chia-khoa-giai-phong-nguon-luc-van-hoa-hue-ky-3-nghen-o-khau-to-chuc-170185.html