Nghị quyết lịch sử cho văn hóa
Vào lúc 9h28 phút ngày 24.4.2026, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với 95,40% số phiếu tán thành. Với tôi, đó không chỉ là một thời khắc lập pháp. Đó còn là khoảnh khắc rất riêng của một người đã có nhiều năm làm việc trong lĩnh vực văn hóa, từng đi qua những trăn trở, thiếu thốn, kỳ vọng của ngành, nay được trực tiếp ấn nút thông qua một nghị quyết có thể mở ra cơ hội mới để văn hóa Việt Nam cất cánh.

Có những khoảnh khắc trong đời làm nghề khiến người ta không thể quên. Với tôi, 9h28 phút ngày 24.4.2026 là một khoảnh khắc như thế. Trên màn hình nghị trường, kết quả biểu quyết hiện lên với tỷ lệ 95,40% số phiếu tán thành đối với Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam. Một con số đẹp, nhưng hơn cả con số, đó là sự đồng thuận rất lớn của Quốc hội đối với một vấn đề mà tôi, cũng như nhiều người làm văn hóa, đã thao thức trong nhiều năm: làm thế nào để văn hóa không chỉ được yêu quý, trân trọng, nhắc đến trong những lời hay ý đẹp, mà thực sự có cơ chế, có nguồn lực, có chính sách, có không gian phát triển tương xứng với vai trò của mình trong đời sống dân tộc.

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam
Khi ấn nút thông qua Nghị quyết, trong tôi hiện lên rất nhiều hình ảnh. Đó là những năm tháng làm việc ở Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, được đi nhiều địa phương, gặp nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ, cán bộ văn hóa cơ sở, những con người lặng lẽ giữ gìn từng làn điệu, từng lễ hội, từng nghề thủ công, từng ký ức cộng đồng. Đó là những buổi khảo sát ở các nhà văn hóa thôn, bản, nơi có công trình nhưng thiếu hoạt động; những rạp hát, đoàn nghệ thuật truyền thống chật vật giữ nghề; những bảo tàng, di tích giàu giá trị nhưng còn thiếu điều kiện để kể câu chuyện của mình hấp dẫn hơn với công chúng trẻ. Đó cũng là những cuộc trò chuyện với doanh nghiệp sáng tạo, những người trẻ làm phim, âm nhạc, thiết kế, trò chơi, nội dung số, du lịch văn hóa, luôn đầy khát vọng nhưng nhiều khi vướng cơ chế, thiếu vốn, thiếu mặt bằng, thiếu hạ tầng, thiếu niềm tin chính sách.
Bởi vậy, với tôi, Nghị quyết này không phải là một văn bản xa lạ. Nó chạm vào rất nhiều câu chuyện có thật của đời sống văn hóa. Nó chạm vào nỗi băn khoăn của những người làm nghề khi thấy văn hóa được khẳng định là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là động lực phát triển, nhưng nguồn lực dành cho văn hóa còn khiêm tốn. Nó chạm vào nỗi lo của những người yêu di sản khi thấy nhiều giá trị có nguy cơ mai một nếu không có chính sách kịp thời. Nó chạm vào niềm mong mỏi của nghệ sĩ, nghệ nhân, vận động viên, người làm công tác văn hóa cơ sở về một sự đãi ngộ công bằng hơn, xứng đáng hơn với lao động đặc thù của họ. Nó cũng chạm vào kỳ vọng của những người tin rằng văn hóa Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành sức mạnh mềm, ngành kinh tế sáng tạo, năng lực cạnh tranh và thương hiệu quốc gia nếu được đầu tư đúng cách.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội)
Điều khiến tôi xúc động nhất là Nghị quyết đã đưa văn hóa từ tình cảm sang thể chế, từ mong muốn sang cam kết, từ nhận thức sang cơ chế hành động. Ngay trong những điều khoản đầu tiên, Nghị quyết xác định ngày 24 tháng 11 hằng năm là "Ngày Văn hóa Việt Nam", người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương; đồng thời có chính sách miễn hoặc giảm phí, lệ phí dịch vụ tham quan tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập vào ngày này theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Đây không chỉ là thêm một ngày nghỉ. Nếu được tổ chức có chiều sâu, đó có thể là một ngày hội lớn của ký ức, bản sắc và sáng tạo Việt Nam; một ngày để gia đình đưa con trẻ đến bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích; một ngày để cộng đồng gặp nhau trong không gian văn hóa; một ngày để mỗi người tự hỏi mình đã làm gì để hiểu hơn, yêu hơn và gìn giữ văn hóa dân tộc.
Tôi nghĩ nhiều đến trẻ em trong ngày ấy. Một đứa trẻ được đến bảo tàng, được nghe kể chuyện về lịch sử, được xem một vở rối nước, được nghe một làn điệu dân ca, được thử một nghề thủ công, được chạm vào di sản bằng cảm xúc hồn nhiên của mình, có thể sẽ mang theo ký ức ấy rất lâu. Văn hóa nhiều khi không bắt đầu từ những khái niệm lớn, mà từ những trải nghiệm đầu đời như thế. Một quốc gia muốn có công chúng văn hóa, muốn có thị trường văn hóa, muốn có công nghiệp văn hóa, trước hết phải nuôi dưỡng tình yêu văn hóa trong mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ.




Đặc sắc Lễ hội Đền Mẫu Cấm Sơn Linh Từ ở Tuyên Quang
Một điểm rất quan trọng khác là Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Với tôi, đây là một trong những điểm có tính đột phá nhất. Trong nhiều năm, chúng ta thường nói rằng đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, nhưng trên thực tế văn hóa vẫn nhiều khi là lĩnh vực đi sau trong phân bổ nguồn lực. Khi tỷ lệ tối thiểu được xác lập, đó là một tín hiệu mạnh mẽ rằng văn hóa không thể chỉ sống bằng sự tận tụy, hy sinh và lòng yêu nghề của những người làm văn hóa. Văn hóa cần nguồn lực thật, chính sách thật, cơ sở vật chất thật, con người thật và cách tổ chức thực hiện thật.
Tất nhiên, tăng nguồn lực không có nghĩa là chi tiêu dàn trải. Điều tôi mong mỏi là 2% ấy phải trở thành nguồn lực tạo chuyển động thực chất: làm cho thiết chế văn hóa cơ sở sống động hơn; giúp di sản được bảo tồn bài bản hơn; giúp nghệ thuật truyền thống có thêm khán giả; giúp nghệ sĩ có điều kiện sáng tạo; giúp trẻ em, người lao động, người yếu thế tiếp cận văn hóa nhiều hơn; giúp dữ liệu văn hóa được số hóa; giúp công nghiệp văn hóa có hạ tầng phát triển; giúp những vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số không bị bỏ lại phía sau trong đời sống văn hóa. Nếu đồng tiền ngân sách được sử dụng đúng, nó không chỉ tạo ra công trình, mà tạo ra niềm tin, thói quen, ký ức và sinh lực văn hóa.




Nét đẹp Lễ hội Rija Nagar của đồng bào Chăm ở Khánh Hòa
Nghị quyết cũng mở ra không gian mới cho công nghiệp văn hóa bằng việc hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, phát triển hạ tầng số và các giải pháp công nghệ cao cho văn hóa. Tôi đặc biệt quan tâm đến tinh thần này, bởi nhiều năm qua, chúng ta có rất nhiều tiềm năng nhưng chưa hình thành được hệ sinh thái đủ mạnh. Việt Nam có lịch sử, di sản, ẩm thực, âm nhạc, mỹ thuật, thời trang, điện ảnh, trò chơi, du lịch, nghề thủ công, lễ hội, đô thị sáng tạo, cộng đồng người trẻ đầy năng lượng; nhưng nếu những nguồn lực ấy không được kết nối với công nghệ, vốn, thị trường, bản quyền, không gian thử nghiệm và chính sách khuyến khích, chúng sẽ vẫn chỉ là tiềm năng.
Văn hóa muốn trở thành ngành kinh tế sáng tạo thì phải có nơi để người sáng tạo gặp doanh nghiệp, nơi ý tưởng gặp thị trường, nơi di sản gặp công nghệ, nơi nghệ sĩ gặp nhà đầu tư, nơi người trẻ được thử nghiệm và thất bại trong giới hạn có thể chấp nhận. Cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa hay tổ hợp sáng tạo văn hóa không nên chỉ là những công trình đẹp, những khu dịch vụ được gắn nhãn "sáng tạo"; chúng phải là những hệ sinh thái sống, có cộng đồng sáng tạo, hoạt động sáng tạo, sản phẩm sáng tạo và khả năng lan tỏa giá trị văn hóa. Đó là điều chúng ta cần đặc biệt lưu ý khi triển khai.




"Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội" lần thứ nhất năm 2025
Tôi cũng rất xúc động với các chính sách dành cho nghệ nhân, nghệ sĩ, vận động viên và người lao động đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, thể thao. Nghị quyết cho phép tuyển dụng không qua thi tuyển đối với một số tài năng đặc biệt; quy định phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập, biểu diễn; hỗ trợ đào tạo lại cho nghệ sĩ một số lĩnh vực khi hết tuổi nghề; đào tạo nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số, giám tuyển, giám định tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, di sản.
Đằng sau những điều khoản ấy là số phận của rất nhiều con người. Một diễn viên xiếc có thể đánh đổi tuổi trẻ bằng những chấn thương. Một nghệ sĩ múa có tuổi nghề rất ngắn. Một nghệ nhân dân gian có thể mất cả đời để giữ một làn điệu nhưng thu nhập không đủ sống. Một diễn viên nghệ thuật truyền thống có thể diễn cho rất ít khán giả nhưng vẫn phải giữ nghề bằng lòng tự trọng. Một vận động viên có thể đem vinh quang về cho Tổ quốc nhưng sau đỉnh cao lại đối diện với nhiều khó khăn khi chuyển nghề. Chính sách văn hóa, vì vậy, không chỉ là chính sách cho di sản hay công trình, mà trước hết là chính sách cho con người. Không có con người giữ lửa, văn hóa chỉ còn là ký ức tĩnh.
Một điểm tôi cho là rất tiến bộ là cơ chế đặt hàng và khoán chi đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước. Sáng tạo không thể bị quản lý hoàn toàn bằng lối tư duy hành chính cứng nhắc. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị cần thời gian, cảm hứng, thử nghiệm, sự tự chủ và đánh giá chuyên môn. Nếu nghệ sĩ phải tiêu tốn quá nhiều năng lượng cho thủ tục, hóa đơn, định mức, giải trình chi li, thì sáng tạo rất dễ bị mòn đi. Cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, thông qua hội đồng chuyên môn thẩm định độc lập, nếu làm minh bạch và đúng tinh thần, sẽ mở ra cơ hội để Nhà nước đặt hàng những tác phẩm lớn, những chương trình có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, những sản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng khó khăn, đối tượng yếu thế, đồng thời tôn trọng đặc thù của lao động sáng tạo.




Lễ hội Lam Kinh “Hào khí Lam Sơn - Tỏa sáng trường tồn” năm 2025
Tôi cũng nhìn thấy trong Nghị quyết một khát vọng đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách tự tin hơn. Chính sách hỗ trợ Tuần Văn hóa Việt Nam, giao lưu nghệ thuật, truyền dạy và biểu diễn nghệ thuật truyền thống, dạy tiếng Việt, nhân rộng mô hình khu phố Việt Nam, làng Việt Nam, câu lạc bộ văn hóa, võ dân tộc, ẩm thực Việt Nam, hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá, giới thiệu, xuất khẩu sản phẩm văn hóa tiêu biểu ở nước ngoài, trưng bày di sản Việt Nam tại các bảo tàng uy tín thế giới, hoàn thuế cho hoạt động quay phim tại Việt Nam đối với những bộ phim góp phần quảng bá đất nước, con người, du lịch Việt Nam — tất cả cho thấy chúng ta đã bắt đầu suy nghĩ mạnh mẽ hơn về năng lực kể chuyện quốc gia.
Trong thế giới hôm nay, một quốc gia không chỉ được biết đến bằng quy mô kinh tế hay sức mạnh quân sự, mà còn bằng cách quốc gia ấy kể câu chuyện về mình. Một bộ phim hay, một món ăn, một bài hát, một lễ hội, một thiết kế, một trò chơi điện tử, một bảo tàng, một thành phố di sản, một nghệ sĩ tài năng, một sản phẩm sáng tạo có thể làm cho thế giới hiểu và yêu Việt Nam hơn. Chúng ta có rất nhiều câu chuyện đáng kể. Vấn đề là phải kể bằng ngôn ngữ của thời đại, bằng chất lượng nghệ thuật, bằng công nghệ, bằng thị trường, bằng bản quyền và bằng sự tự tin văn hóa.
Dĩ nhiên, niềm vui của ngày Nghị quyết được thông qua không làm tôi quên những khó khăn phía trước. Từ một văn bản chính sách đến đời sống là một hành trình dài. Cần có nghị định, thông tư, hướng dẫn, tiêu chí, nguồn lực, bộ máy thực hiện, cơ chế phối hợp, giám sát, đánh giá. Cần tránh tình trạng chính sách rất hay nhưng triển khai chậm; tránh biến các khu sáng tạo thành dự án bất động sản; tránh biến Ngày Văn hóa Việt Nam thành ngày nghỉ hình thức; tránh chi ngân sách theo lối dàn trải; tránh thương mại hóa di sản một cách thô bạo; tránh để Quỹ văn hóa, nghệ thuật trở thành cơ chế xin - cho; tránh để chuyển đổi số văn hóa chỉ dừng ở vài dự án số hóa rời rạc.




Lễ hội Gầu Tào dân tộc Mông xã Pà Cò năm 2026
Nhưng dù còn nhiều việc phải làm, tôi vẫn muốn giữ cho mình niềm tin của buổi sáng hôm ấy. Bởi trong đời làm văn hóa, có những lúc ta cần những tín hiệu chính sách đủ mạnh để tiếp thêm hy vọng. 95,40% số phiếu tán thành không chỉ là kết quả biểu quyết. Đó là lời nhắn gửi rằng văn hóa đã được đặt vào vị trí xứng đáng hơn trong chương trình nghị sự quốc gia. Đó là sự chia sẻ của các đại biểu Quốc hội với những trăn trở lâu dài của ngành văn hóa. Đó là sự khẳng định rằng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể thiếu chiều sâu văn hóa, không thể chỉ chạy theo tốc độ mà quên bản sắc, không thể chỉ xây dựng hạ tầng vật chất mà không chăm lo hạ tầng tinh thần của xã hội.
Khi rời nghị trường, tôi nghĩ đến những nghệ nhân ở bản làng xa xôi, những nghệ sĩ sau cánh gà sân khấu, những cán bộ văn hóa cơ sở âm thầm, những bạn trẻ đang làm nội dung số về lịch sử, những doanh nghiệp sáng tạo còn nhỏ nhưng nhiều khát vọng, những em bé có thể sẽ được đến bảo tàng vào Ngày Văn hóa Việt Nam, những di sản có thể được số hóa, những tác phẩm có thể được đặt hàng, những câu chuyện Việt Nam có thể đi xa hơn. Một cú nhấn nút trong nghị trường không tự nó làm thay đổi tất cả. Nhưng nó có thể mở ra một cánh cửa. Và khi cánh cửa ấy đã mở, trách nhiệm của chúng ta là cùng nhau bước qua bằng sự tử tế, sáng tạo, minh bạch và khát vọng.
Văn hóa Việt Nam đã đi cùng dân tộc qua chiến tranh, qua đói nghèo, qua những khúc quanh lịch sử. Hôm nay, trong kỷ nguyên mới, văn hóa cần tiếp tục đi cùng đất nước bằng một tâm thế mới: không chỉ giữ gìn, mà còn sáng tạo; không chỉ bảo tồn, mà còn phát triển; không chỉ tự hào, mà còn biết chuyển tự hào ấy thành sức mạnh mềm, thành sản phẩm, thành sinh kế, thành thương hiệu, thành nhân cách con người Việt Nam. Với tôi, đó là ý nghĩa sâu xa nhất của Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam - một nghị quyết mà tôi đã có vinh dự được trực tiếp ấn nút thông qua, trong một buổi sáng rất đáng nhớ của đời làm văn hóa và làm đại biểu nhân dân.
Bài viết: PGS-TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách UB VHXH của Quốc hội
Ảnh: Thông tấn xã Việt Nam
Báo: Thể thao và Văn hóa



![[Video] Khoảnh khắc lịch sử: Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Đồng Nai](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w400_r3x2/2026_04_24_423_55014460/f02393b176f99fa7c6e8.jpg)






