Nghị quyết số 10-NQ/TW: Làm gì để FDI kéo doanh nghiệp Việt cùng tiến?

Theo chuyên gia, nếu không nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế, Việt Nam có thể tiếp tục hút được FDI song sẽ khó hút những mắt xích có giá trị gia tăng cao nhất.

Mở đường nâng chất dòng vốn FDI

Sau gần 40 năm mở cửa, thành tựu của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được khẳng định bằng những con số rõ ràng. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 550 tỷ USD, hơn 46.000 dự án còn hiệu lực và quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương gần 200% GDP. Khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, những con số ấn tượng về vốn và dự án cũng đặt ra yêu cầu phải nhìn lại chất lượng tăng trưởng của khu vực này: Dòng vốn đó đã tạo ra bao nhiêu giá trị mới, chuyển giao được bao nhiêu công nghệ, giúp doanh nghiệp trong nước trưởng thành đến đâu và đóng góp thế nào vào năng lực tự chủ của nền kinh tế?

Định hướng từ Nghị quyết số 10-NQ/TW phản ánh tham vọng nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Định hướng từ Nghị quyết số 10-NQ/TW phản ánh tham vọng nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Yêu cầu chuyển từ thu hút vốn bằng mọi giá sang lựa chọn dòng vốn có chất lượng đã trở thành đòi hỏi cấp thiết. Trong bối cảnh đó, ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy thu hút FDI, từ chú trọng quy mô vốn sang lựa chọn chất lượng dòng vốn, từ mở rộng năng lực sản xuất sang thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao giá trị gia tăng.

Theo cách tiếp cận mới, hiệu quả của một dự án FDI không thể chỉ được đánh giá bằng số vốn đăng ký, diện tích đất sử dụng hay số lao động tuyển dụng. Giá trị thực chất cần được đo bằng trình độ công nghệ, năng lực nghiên cứu và phát triển, khả năng chuyển giao tri thức, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước cùng đóng góp vào quá trình hình thành các ngành sản xuất mới. Đích đến cuối cùng của chính sách FDI phải là củng cố năng lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh và từng bước xây dựng nền kinh tế tự chủ hơn trước những biến động của thị trường toàn cầu.

Luật sư Nguyễn Hồng Chung - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam.

Luật sư Nguyễn Hồng Chung - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, luật sư Nguyễn Hồng Chung - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần triển khai các chính sách hỗ trợ trực tiếp như tín dụng nâng cấp công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao và xây dựng chương trình nhà cung ứng quốc gia.

Theo ông Chung, trong kỷ nguyên cạnh tranh bằng công nghệ và tốc độ, lợi thế nhân công giá rẻ đã không còn là quân bài chiến lược hàng đầu. Các nhà đầu tư thế hệ mới quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định của môi trường kinh doanh, khả năng kết nối hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ thông minh của hệ thống logistics.

"Từ thực tế đó, Việt Nam cần phát triển mạng lưới giao thông đa phương thức, cắt giảm chi phí logistics trung gian, xây dựng các trung tâm logistics hiện đại gắn với các vùng kinh tế trọng điểm và đầu tư mạnh cho hạ tầng số. Quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, ổn định và minh bạch. Nhà đầu tư có thể chấp nhận chi phí cao hơn nhưng rất khó chấp nhận sự bất định về chính sách và tiến độ hạ tầng", luật sư Nguyễn Hồng Chung phân tích.

Để tăng sức lan tỏa của khu vực FDI, Việt Nam cần sớm nhận diện những doanh nghiệp nội địa có tiềm năng tham gia chuỗi cung ứng và xây dựng chính sách hỗ trợ theo đúng nhu cầu về vốn, công nghệ, quản trị và thị trường. Việc hỗ trợ cần có trọng tâm, tránh dàn trải nhưng thiếu hiệu quả.

Cùng đó, cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu nhà cung ứng trong nước, công khai năng lực sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu hợp tác của các doanh nghiệp FDI. Các chương trình kết nối cung cầu, triển lãm công nghiệp hỗ trợ cùng nền tảng số dùng chung sẽ giúp doanh nghiệp hai khu vực tiếp cận nhau nhanh hơn và giảm chi phí tìm kiếm đối tác. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo vị chuyên gia, nguồn nhân lực cũng là điều kiện quyết định khả năng tiếp nhận công nghệ. Việt Nam cần tăng cường đào tạo nghề theo nhu cầu thực tế, mở rộng hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, đồng thời chú trọng kỹ năng thực hành. Khi doanh nghiệp có năng lực quản trị và người lao động đủ trình độ, công nghệ chuyển giao mới có thể được tiếp nhận, làm chủ và tạo ra giá trị gia tăng trong nước.

Chuyển hóa niềm tin đầu tư thành tăng trưởng

Đánh giá tích cực kết quả thu hút vốn FDI trong 6 tháng đầu năm 2026, TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, dòng vốn đăng ký gần 35 tỷ USD cho thấy Việt Nam tiếp tục giữ được sức hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. Kết quả này phản ánh niềm tin vào triển vọng tăng trưởng, môi trường đầu tư, kinh doanh cùng vị trí ngày càng rõ nét của Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, phía sau con số vốn đăng ký tích cực vẫn còn khoảng cách, khi tổng vốn đăng ký đạt gần 35 tỷ USD, vốn thực hiện mới đạt hơn 13 tỷ USD. Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, sự chênh lệch giữa hai con số cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đã được xác lập nhưng khả năng chuyển hóa niềm tin thành nhà máy, dây chuyền sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng thực tế còn phụ thuộc lớn vào năng lực hấp thụ của nền kinh tế.

TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Quốc Chuyển

TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Quốc Chuyển

Năng lực hấp thụ đó trước hết được thể hiện qua chất lượng kết cấu hạ tầng, khả năng cung ứng năng lượng, nguồn nhân lực, quỹ đất công nghiệp, hệ thống logistics và tốc độ xử lý thủ tục đầu tư. Khi quy mô các dự án FDI ngày càng lớn, yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cũng trở nên cao hơn. Nếu các điều kiện này không được chuẩn bị đồng bộ, dòng vốn đăng ký có thể chậm đi vào thực hiện, làm giảm hiệu quả thu hút đầu tư.

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ triển vọng tăng trưởng, khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tính nhất quán của chính sách trước khi đưa ra quyết định đầu tư dài hạn. Vì vậy, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là nền móng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, dòng vốn FDI hiện vẫn tập trung chủ yếu vào một số ngành và lĩnh vực mũi nhọn. Bài toán đặt ra trong giai đoạn tới là mở rộng không gian thu hút đầu tư theo hướng có chọn lọc, tránh chạy theo số lượng dự án hoặc quy mô vốn đăng ký. Việt Nam cần ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, kinh tế xanh cùng các ngành tạo giá trị gia tăng lớn.

"Điều quan trọng là Việt Nam cần có các chính sách hỗ trợ phù hợp để khuyến khích khu vực FDI chuyển dịch sang các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn đối với doanh nghiệp trong nước, qua đó nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Đây sẽ là điểm nhấn của thu hút FDI trong thời gian tới", TS. Nguyễn Quốc Việt khuyến nghị và nhấn mạnh thu hút được vốn mới là bước khởi đầu. Thước đo quan trọng hơn nằm ở tốc độ giải ngân, mức độ chuyển giao công nghệ và khả năng kết nối khu vực FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Khi dòng vốn ngoại thực sự góp phần nâng cao năng lực sản xuất trong nước, niềm tin đầu tư mới được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng bền vững.

Theo Nghị quyết 10-NQ/TW, giai đoạn 2026 - 2030, vốn FDI giải ngân cần đạt từ 30 - 40 tỷ USD/năm. Đồng thời, 75% vốn đầu tư nước ngoài phải đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại. Số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%.

Nguyên Thảo

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nghi-quyet-so-10-nq-tw-lam-gi-de-fdi-keo-doanh-nghiep-viet-cung-tien-466770.html