Nghị quyết số 20-NQ/TW: Chuyển hóa lợi thế biển thành sức mạnh quốc gia
Nghị quyết số 20-NQ/TW đánh dấu bước chuyển từ khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế biển bền vững sang xây dựng quốc gia biển mạnh và phát triển toàn diện từ biển.
Mở trục tăng trưởng chiến lược hướng ra biển
Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết ra đời trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đặt ra yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong tổng thể các chủ trương lớn của Trung ương về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học và công nghệ, hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 20-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt khi xác lập tầm nhìn mới về biển, coi biển là không gian phát triển chiến lược và là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương giới thiệu chuyên đề "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh"
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 29/7/2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí và vai trò đặc biệt của biển đã được nâng lên.
Thể chế, chính sách, pháp luật và quản trị biển tiếp tục được hoàn thiện, công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được tăng cường. Kinh tế biển tiếp tục khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế. Đời sống người dân vùng ven biển, hải đảo được cải thiện.
Cùng đó, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được củng cố; chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia được giữ vững, góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Tuy nhiên, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh còn nhiều khó khăn, thách thức. Thể chế, chính sách, quản trị biển và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn bất cập. Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường biển chưa đáp ứng yêu cầu. Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở bờ biển diễn biến phức tạp. Việc quản lý, khai thác và làm chủ không gian biển, ứng phó với các thách thức an ninh biển và nâng cao đời sống một bộ phận cư dân ven biển, hải đảo còn hạn chế; giá trị văn hóa biển chưa được phát huy đầy đủ.
Việt Nam là quốc gia biển có vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng, với vùng biển rộng hơn 1 triệu km², gấp khoảng ba lần diện tích đất liền. Biển là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược và là bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực cạnh tranh cũng như sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thêm vào đó, Biển Đông và Biển Tây Nam nước ta luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, tác động trực tiếp đến hòa bình, ổn định và phát triển đất nước.
Trước bối cảnh và yêu cầu mới, việc ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Đột phá thể chế, thống nhất quy hoạch không gian biển
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, Nghị quyết số 20-NQ/TW thể hiện đổi mới căn bản về tư duy phát triển. Việt Nam đang chuyển từ khai thác tài nguyên biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển các ngành kinh tế ven biển riêng lẻ sang xây dựng một quốc gia biển mạnh.
"Thay đổi này rất quan trọng, bởi Việt Nam có tiềm năng biển lớn nhưng tiềm năng tự nó không tạo ra tăng trưởng. Chỉ khi có thể chế phù hợp, quy hoạch thống nhất, hạ tầng đồng bộ, doanh nghiệp đủ mạnh và công nghệ làm chủ thì tiềm năng mới được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển", GS.TS Hoàng Văn Cường nhận định.

GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.
Nghị quyết xác định biển là không gian phát triển chiến lược, nơi hội tụ các lợi ích về kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển được đặt mục tiêu đóng góp trên 70% GDP cả nước. Cùng đó, yêu cầu hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh, 3 khu kinh tế đặc biệt và phát triển năng lượng tái tạo.
Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, những mục tiêu này có tính dẫn dắt rất cao. Tuy nhiên, để hiện thực hóa, khâu đầu tiên cần tạo đột phá là thể chế và quy hoạch không gian biển. Thực tế cho thấy, cùng một khu vực biển có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực như hàng hải, năng lượng, nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn môi trường và quốc phòng. Nếu từng ngành xây dựng kế hoạch riêng, từng địa phương lựa chọn dự án riêng thì nguy cơ chồng lấn, xung đột lợi ích và phân tán nguồn lực rất dễ xảy ra.
"Quy hoạch tích hợp không phải là ghép các quy hoạch ngành lại với nhau một cách cơ học. Các ngành, địa phương và nhà đầu tư phải cùng tham gia xác định một phương án phát triển chung ngay từ đầu", GS.TS Hoàng Văn Cường nêu quan điểm.
Theo ông, đây cũng là yêu cầu căn bản trong đổi mới công tác quy hoạch, không gian biển phải được xem xét trong mối quan hệ tổng thể giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích lâu dài của quốc gia.
Nghị quyết yêu cầu quy hoạch không gian biển quốc gia phải trở thành công cụ điều phối tổng hợp, có tính ràng buộc đối với quy hoạch ngành, vùng và địa phương; đồng thời, Chính phủ thống nhất quản lý và giao một cơ quan chủ trì điều phối các hoạt động trên biển. Đây là điều kiện quan trọng để khắc phục tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý nhưng khi xảy ra chồng lấn lại khó xác định cơ quan chịu trách nhiệm.
"Cơ chế điều phối thống nhất sẽ góp phần phân định rõ chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan. Quy hoạch đồng bộ cũng tạo cơ sở để phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, hạn chế đầu tư dàn trải và xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của từng ngành, từng địa phương với lợi ích chung của đất nước. Thể chế rõ ràng, quy hoạch ổn định và cơ chế quản lý thống nhất cũng là điều kiện để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực có quy mô vốn lớn, thời gian triển khai dài và yêu cầu công nghệ cao", vị chuyên gia phân tích.
Bên cạnh đột phá về thể chế và quy hoạch, kinh tế biển cần được phát triển theo chuỗi giá trị và hệ sinh thái. Đây là điều kiện để các ngành kinh tế biển liên kết với nhau, tạo giá trị gia tăng cao hơn và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo ông, cảng biển khó có thể trở thành động lực tăng trưởng nếu thiếu đường bộ, đường sắt, trung tâm logistics và các khu sản xuất phía sau. Cảng biển phải được đặt trong hệ thống kết nối tổng thể để hàng hóa được lưu thông thuận lợi, chi phí được tiết giảm và sức lan tỏa đến các ngành sản xuất, dịch vụ được mở rộng.
Đặc biệt, khoa học công nghệ và dữ liệu phải trở thành nền tảng của quản trị biển, không thể quản trị hiệu quả không gian rộng lớn khi dữ liệu còn phân tán, thiếu kết nối và chưa được cập nhật đầy đủ. Hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về biển, số hóa và chia sẻ dữ liệu về tài nguyên, môi trường, hạ tầng cùng các hoạt động trên biển sẽ giúp công tác quy hoạch chính xác hơn, dự báo rủi ro tốt hơn và tạo nền tảng phát triển các ngành kinh tế mới. Dữ liệu đầy đủ cũng giúp cơ quan quản lý nhận diện rõ khả năng chịu tải của từng khu vực biển, hạn chế xung đột trong khai thác không gian và nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở bờ biển cùng các thách thức an ninh biển.
"Nghị quyết số 20-NQ/TW đã mở ra không gian phát triển rộng lớn, vấn đề quyết định là chuyển nhanh từ tư duy sang hành động để thể chế thực sự khơi thông nguồn lực và biến tiềm năng biển thành sức mạnh kinh tế, sức mạnh quốc phòng cùng vị thế mới của Việt Nam", GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.
Nghị quyết 20-NQ/TW đã mở rộng nội hàm của khái niệm "phát triển từ biển". Nếu trước đây trọng tâm là khai thác hiệu quả tiềm năng biển để phục vụ tăng trưởng thì nay mục tiêu cao hơn là kiến tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia từ biển. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.











