Nghĩa của “Tập”, “Ấm” trong “Tập ấm” và “Tập tước”
Nay, nhân dịp Tầm nguyên tự điển (Vân-Hạc Lê Văn Hòe - Quốc học Thư xã, 1941) được Nhà xuất bản Trẻ tái bản, chúng tôi thấy liên quan đến các từ “cậu ấm”, “tập ấm”, “tập tước” cũng cần phải “bàn lại” và “bàn thêm”.

Cụ thể, ở mục “cậu ấm” Lê Văn Hòe giải thích như sau: “Ấm nghĩa chính là bóng cây. Ngày xưa con cái các quan thường nhờ công trạng sự nghiệp của tổ phụ mà được làm quan, như về đời Trần ở nước ta, phàm là con các quan sau đều được ra làm quan hết. Lệ ấy gọi là tập ấm. Tập là cái áo, cũng có nghĩa là khoác áo. Ấm là bóng. Tập ấm là khoác bóng, tức là nương bóng (mẹ cha) mà được ra làm quan. Con cái các quan được quyền tập ấm gọi là ấm tử, hoặc ấm sinh. Do đó, ngày nay dù lệ tập ấm không còn, người ta vẫn quen gọi các con quan là cậu ấm”.
Đến mục “tập tước”, Lê Văn Hòe giải thích: “Ngày xưa, thời phong-kiến, có lệ tập-ấm. Nghĩa là hễ cha được phong Quận Công, thì con trai cả dù không làm gì cũng được tập phong tước Hầu và cháu trưởng sau này cũng được tập phong tước Bá v.v.. Cha làm quan nhất phẩm thì sau con được làm quan nhị tam phẩm chẳng hạn.
Vậy “tập” chính là gì?
Tập chính nghĩa là mặc áo lại, nghĩa là dùng áo đã dùng rồi để mặc. Do nghĩa đó, mà con cháu được phong theo tước-vị của ông cha, người ta gọi là tập-tước hay tập-ấm”.
Sau đây chúng tôi xin lần lượt đi vào nghĩa của từng chữ.
1. Chữ “tập” trong “tập ấm”, “tập tước”
Chữ tập 襲 quả có nghĩa là mặc áo và áo lót (chữ tập có bộ y 衣), đúng như Lê Văn Hòe giảng. Tuy nhiên, trong từ tập ấm 襲蔭, tập lại có nghĩa là “kế thừa, noi theo, tiếp nối”. Hán ngữ đại từ điển giảng nghĩa thứ 9 của tập 襲 là “kế thừa, duyên tập” (繼承; 沿襲). Sách này lấy ví dụ: Chu Vũ vương tập Thang chi tự 周武王襲湯之緒, nghĩa là Chu Vũ vương kế thừa cơ nghiệp của Thành Thang. Như vậy, trong câu này, tập 襲 rõ ràng mang nghĩa “kế thừa”, không thể hiểu là “mặc áo”, càng không thể suy diễn thành “khoác bóng”. Cũng giống như “thế tập” 世襲 là đời đời kế thừa, đời này truyền cho đời kia, vậy.
Có lẽ Lê Văn Hoè đã suy diễn: tập 襲 = áo, khoác áo; ấm 蔭 = bóng → tập ấm 襲蔭 = khoác bóng → nương bóng cha mẹ → nhờ cha mẹ mà được làm quan. Mục “tập tước”, Lê Văn Hoè lặp lại cách giải thích này: “Tập chính nghĩa là mặc áo lại, nghĩa là dùng áo đã dùng rồi để mặc. Do nghĩa đó, mà con cháu được phong theo tước-vị của ông cha, người ta gọi là tập-tước hay tập-ấm”. Về mặt hình ảnh thì cách diễn giải này thú vị và dễ nhớ, tuy nhiên nó lại không phải là diễn tiến nghĩa của từ nguyên. Bởi vì trong Hán văn cổ, ngoài nghĩa áo, khoác áo, “tập” 襲 đã sớm có nghĩa độc lập là “kế thừa”. Đây mới là nghĩa của tập 襲 trong các từ tập ấm, tập tước.
2. Chữ “ấm” trong “tập ấm”
Mục “cậu ấm”, Lê Văn Hòe giải thích: “Ấm là bóng. Tập ấm là khoác bóng, tức là nương bóng (mẹ cha) mà được ra làm quan”.
Ở đây, với chữ “ấm” 蔭, Lê Văn Hòe cũng mắc lỗi tương tự khi xác định nghĩa của chữ trong từ ngữ cụ thể. Cụ thể, “ấm” 蔭 đúng là cũng có nghĩa “bóng cây, bóng râm”. Nhưng trong từ “tập ấm” thì “ấm” lại có nghĩa là: ân ấm, sự che chở/đặc quyền do tổ tiên để lại (Hán ngữ đại từ điển giảng nghĩa 3 của ấm là: sự che chở; trong xã hội phong kiến, con cháu nhờ công lao của tổ tiên mà được phong thưởng hoặc miễn tội).
Như vậy, điều đáng nói là hai nghĩa “bóng” và “khoác áo” mà Lê Văn Hoè sử dụng đều là những nghĩa có thật của hai chữ “ấm” và “tập”; tuy nhiên, chúng lại không phải là nghĩa của hai chữ này trong “tập ấm” 襲蔭 và “tập tước” 襲爵. Đây là điểm cần phân biệt rạch ròi giữa nghĩa của chữ và nghĩa của chữ trong một từ ngữ cụ thể.
Chú thích:
(*) Sách 1575 thành ngữ, tục ngữ cần bàn thêm (Lê Gia), mục “Cậu ấm cô chiêu - Cậu ấm sứt vòi”, tác giả giảng như sau: “Chữ “ấm” (cũng đọc là “âm”): Bóng mát. Sự che chở cho. Chữ “ấm” (cũng đọc là “ẩm”): Cho uống nước. Cho nên ta cũng gọi cái bình tích thủy, cái nồi nấu nước là “cái ấm”. Chữ “chiêu”: Cái ấm để nấu nước trà. Có người nói: “Chiêu từng miếng nước”; “cô chiêu”: Con gái nhà quan lớn nhưng vì là con gái nên không được tập ấm. Nhưng vì chữ “ấm” có nghĩa là bóng che và là cái ấm, cùng nghĩa với chữ “chiêu” là cái ấm, nên dù cô gái không được “tập ấm”, không được gọi là “cô ấm”, thì nay gọi tạm là “cô chiêu”, nó cũng có nghĩa là “cô ấm” (có danh, không có thực); “Cậu ấm sứt vòi”: Như trên, cậu con trai này mang hai cái tên là “tập ấm” và “cái ấm”, nên nếu cậu là người hư hỏng, bất tài thì ví cũng như cái ấm bị sứt mẻ mất cái vòi thành ra đồ bỏ”.
Đối chiếu với những gì chúng tôi phân tích trong bài viết trên đây, cách giải thích từ nguyên của Lê Gia là thiếu cơ sở.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/nghia-cua-tap-am-trong-tap-am-va-tap-tuoc-45454.htm
