Người đón bình minh giữa núi đá
Có những con người ta gặp rồi quên, nhưng cũng có những người, dù chưa một lần gặp mặt, đã khiến ta muốn đi tìm...
Không phải bởi họ làm nên điều gì phi thường, mà bởi giữa cuộc sống bộn bề này, họ vẫn lặng lẽ làm những việc tưởng chừng bình thường, nhưng không phải ai cũng đủ lòng để làm.
Tôi biết đến Thào Thị Se trong một lần tìm kiếm ý tưởng sáng tác. Giữa rất nhiều câu chuyện về những phận người nơi miền núi, cái tên Thào Thị Se, một cô đỡ thôn bản người Mông ở Phố Cáo, Đồng Văn, Hà Giang, bất chợt khiến tôi dừng lại. Một người phụ nữ sống giữa vùng núi đá khắc nghiệt, nhiều năm lặn lội đến từng nếp nhà để giúp những người đàn bà vượt cạn. Chừng ấy thông tin chưa đủ để hình dung về một con người, nhưng đủ đánh thức trong tôi sự tò mò. Điều gì khiến một người phụ nữ Mông, cũng phải lo con cái, nương rẫy và những bữa cơm thường ngày, lại sẵn lòng rời nhà giữa đêm khuya để đi đón những đứa trẻ không phải con mình?
Tôi bắt đầu tìm Se. Sau những cuộc hỏi han, dò tìm thông tin, rồi nhờ người này nối với người kia, cuối cùng tôi cũng liên lạc được với chị. Ở đầu dây bên kia là một giọng phụ nữ vui vẻ, cởi mở. Se nói chuyện hồn nhiên, thỉnh thoảng lại bật cười. Chị kể về những đêm mưa, những con đường trơn trượt, những lần bị mắng mỏ, xua đuổi. Kể cả chuyện chồng từng không muốn chị tiếp tục công việc vì phụ cấp ít ỏi, trong khi nương rẫy và gia đình còn bao điều phải lo, Se kể rồi cười.
Nhưng tôi không thể cười theo tất cả những câu chuyện ấy. Bởi đằng sau sự hồn nhiên của chị là những khoảnh khắc mà chỉ cần chậm một chút, có thể một sinh mạng đã không còn. Đằng sau mỗi tiếng khóc trẻ thơ là biết bao lo âu, nhọc nhằn và cả những giọt nước mắt không dễ gọi thành tên.
Xuống núi mang chữ về bản
Năm 2010, khi mới hai mươi hai tuổi, Se được chọn tham gia lớp đào tạo cô đỡ thôn bản tại Hà Giang, trong chương trình của Bộ Y tế. Khi ấy, đứa con nhỏ của chị mới ba tháng tuổi. Se mang con xuống thành phố, nhờ em gái đi cùng trông cháu để yên tâm học. Ở Phố Cáo, cái nghèo như bám vào từng phiến đá. Những nếp nhà người Mông nằm rải rác giữa núi cao, có thôn bản chưa có đường xe máy, chỉ có thể đến bằng đôi chân. Hơn 6.000 người dân sống trong 18 thôn bản, phần lớn là đồng bào Mông. Đất canh tác ít, mùa đông rét buốt, cuộc sống phụ thuộc vào nương ngô và những đàn gia súc nhỏ.
Giữa những nhọc nhằn ấy, chuyện sinh nở của phụ nữ nhiều khi được phó mặc cho kinh nghiệm truyền đời. Có người chưa từng được khám thai. Có người chuyển dạ giữa đêm, chỉ biết trông cậy vào mẹ chồng hoặc bà đỡ trong bản. Khi tai biến xảy ra, đường đến cơ sở y tế quá xa, có khi không còn kịp nữa. Se lớn lên giữa những thiếu thốn ấy. Chị hiểu nỗi nhọc nhằn của người phụ nữ Mông, bởi chính chị cũng là một người trong số họ. Nhưng từ bản xuống thành phố học nghề là cả một cuộc vượt núi khác.

Những ngày đầu, vừa học vừa chăm con, nhớ nhà, lo cho nương rẫy, có lúc Se nản chí đến bật khóc. Chị thú nhận đã từng muốn bỏ dở, muốn trốn về. Rồi trong những giờ học về tai biến sản khoa, về những cái chết có thể phòng tránh của bà mẹ và trẻ sơ sinh, chị lại nghĩ đến những người đàn bà trên núi. Nghĩ đến họ, Se ở lại.
Trong những tháng được đào tạo, đặc biệt là thời gian thực hành tại khoa Phụ sản, Bệnh viện Đa khoa Hà Giang, chị lần đầu hiểu cặn kẽ vì sao một đứa trẻ có thể ngạt thở khi vừa lọt lòng, vì sao người mẹ có thể mất máu đến nguy hiểm, vì sao một dụng cụ cắt rốn không sạch có thể cướp đi mạng sống của trẻ sơ sinh. Chị được hướng dẫn cách theo dõi thai kỳ, hỗ trợ sinh an toàn, nhận biết dấu hiệu nguy hiểm, sơ cứu ban đầu và phối hợp chuyển tuyến khi có tai biến. Những điều tưởng như giản đơn ở bệnh viện lại là kiến thức vô cùng quý giá đối với người phụ nữ vùng cao.
Ngày trở về Phố Cáo, Se mang theo túi dụng cụ y tế, những kiến thức vừa học được và một niềm tin giản dị: Phụ nữ trong bản phải được sinh con an toàn hơn, nhưng con đường từ kiến thức đến lòng tin của bà con còn dài hơn cả con đường xuống núi.
Những cánh cửa khép
Se được trạm y tế phân công phụ trách 3 bản. Ngoài việc hỗ trợ các sản phụ không thể đến cơ sở y tế kịp thời, chị còn vận động người dân khám thai, chăm sóc sức khỏe sinh sản, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, ăn chín uống sôi, giữ gìn vệ sinh và phòng chống dịch bệnh. Thế nhưng, điều khó nhất không phải là đi bộ qua những con dốc mà là bước qua những tập quán đã tồn tại hàng trăm năm.
Se kể, trước đây nhiều phụ nữ Mông sinh con trong góc bếp hoặc căn buồng tối. Có gia đình dùng dao cắt cỏ, cật nứa nhặt ngoài hàng rào để cắt rốn. Trẻ sơ sinh có khi cả tháng không được tắm rửa. Việc sinh nở chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người thân, còn những nguy cơ nhiễm trùng, băng huyết hay ngạt sơ sinh thì ít người hiểu rõ. Chị đến từng nhà, giải thích, khuyên nhủ. Nhưng không phải cánh cửa nào cũng mở. Có người nghe rồi bỏ đấy. Có người gắt gỏng: "Từ trước đến giờ đẻ ở nhà có sao đâu? Con cái vẫn khỏe mạnh cả mà!". Có gia đình tin rằng đã có thầy cúng làm phép thì không cần khám thai. Có người không muốn để Se kiểm tra sức khỏe vì ngượng ngùng. Thậm chí, có lần chị bị xua đuổi.
Tôi hỏi chị trong hoàn cảnh không được thấu hiểu chị có buồn không? Chị cười và bảo; những ngày đầu bị mắng là chuyện thường. Có lúc tủi thân, nhưng nghĩ nếu bỏ cuộc thì những người phụ nữ ấy vẫn tiếp tục sinh con trong nguy hiểm, chị lại tìm cách quay trở lại. Lần thứ nhất không được, chị đến lần thứ hai. Lần thứ hai chưa thành, chị lại đến lần thứ ba. Chị mang theo hình ảnh, tài liệu về thai sản, giải thích từng điều, hướng dẫn cách tính tuổi thai và dự kiến ngày sinh.
Se nhận ra rằng, muốn người khác thay đổi, trước hết phải khiến họ tin mình. Bởi vậy, chị không khoác chiếc áo trắng của người làm công tác y tế khi đến vận động bà con, mà mặc bộ trang phục truyền thống của dân tộc Mông. Chị trò chuyện bằng tiếng nói của họ, bằng sự gần gũi của một người chị, người em cùng bản. Những người phụ nữ vốn e ngại dần cởi mở hơn. Họ bắt đầu kể về những cơn đau, những lần mang thai, những nỗi lo mà trước đó chỉ giữ riêng trong lòng.

Se kể về một gia đình đã có sáu người con. Khi chị đến vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình, người chồng phản ứng dữ dội, suýt ném bát cơm vào mặt chị và cấm chị đến nhà. Vậy mà một thời gian sau, chính người đàn ông ấy lại tìm đến nhờ chị hướng dẫn để vợ được thực hiện biện pháp tránh thai lâu dài. Kể đến đây, chị Se cười.
Tôi hiểu vì sao chị cười vậy. Bởi đôi khi, thành quả của người cô đỡ không phải là một đứa trẻ được đón chào đời, mà là một người phụ nữ không còn phải sinh thêm những đứa con ngoài mong muốn, một gia đình nghèo có thêm cơ hội chăm sóc những đứa trẻ đã sinh ra.
Se hiểu rằng, công việc của mình không chỉ là đỡ đẻ. Chị đang cố gắng để những nỗi đau từng xảy ra không tiếp tục lặp lại. Một lần, khi đến hỗ trợ sản phụ, Se phát hiện tình trạng bất thường nghiêm trọng. Đó là tình huống chị chưa từng trực tiếp gặp. Ban đầu, chị rất sợ. Nhưng rồi tự trấn tĩnh, chị gọi một nữ hộ sinh ở trạm y tế đến hỗ trợ. Người sản phụ khi ấy gần như kiệt sức. Hai người thực hiện các biện pháp sơ cứu cần thiết. Khoảng ba mươi phút sau, tình trạng sản phụ dần ổn định. Se gọi chồng đến cùng đưa người bệnh tới cơ sở y tế để tiếp tục điều trị.
Khi sự hy sinh trở thành điều bình thường
Làm cô đỡ thôn bản, Se nhận khoản phụ cấp ít ỏi. Công việc không có giờ giấc. Người ta có thể gọi chị lúc đang ăn cơm, đang làm nương hay giữa đêm đông rét buốt. Có thời gian, mẹ và chồng khuyên chị nghỉ việc để chăm lo gia đình. Họ có lý do để lo lắng. Nương rẫy cần người làm. Con cái cần mẹ. Cuộc sống vốn đã chật vật, trong khi những chuyến đi đỡ đẻ không thể mang lại nguồn thu nhập đủ nuôi gia đình.
Nhưng chị Se nghĩ, nếu mình nghỉ, những người phụ nữ ấy sẽ tìm ai? Chị nói với chồng rằng bà con tin tưởng mới tìm đến mình. Đã được học để cứu giúp họ, chị không thể quay lưng khi họ cần. "Cứu người là trên hết", chị bảo. Dần dần, người chồng cũng hiểu và cảm thông cho vợ.
Những bàn tay nối dài sự sống
Hai mươi lăm năm là một chặng đường dài. Đủ để những đứa trẻ từng được đón chào đời trong vòng tay các cô đỡ thôn bản trưởng thành, dựng vợ gả chồng, rồi lại làm cha, làm mẹ. Cũng ngần ấy năm, trên những con đường cheo leo giữa núi rừng, những người phụ nữ như Thào Thị Se vẫn lặng lẽ đi về, mang theo kiến thức y học và niềm tin vào sự sống.
Đến nay, sau 25 năm triển khai, mạng lưới cô đỡ thôn bản có hơn 2.600 người hoạt động, trong bối cảnh cả nước có 8.165 thôn bản khó khăn. Đằng sau những con số ấy là hàng nghìn đôi chân đã vượt núi, băng rừng; hàng nghìn đôi bàn tay nâng đỡ những sinh linh bé nhỏ; là những người mẹ được chăm sóc, những đứa trẻ có thêm cơ hội chào đời an toàn. Mỗi cô đỡ là một nhịp cầu nối những bản làng xa xôi với hệ thống y tế, từng bước tháo gỡ những rào cản về địa lý, tập quán và điều kiện kinh tế.
Thành quả ấy được vun đắp bằng những nỗ lực bền bỉ của Bộ Y tế, các bộ, ngành, chính quyền địa phương cùng sự đồng hành của các tổ chức quốc tế. Từ những lớp đào tạo, những chương trình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kiến thức y học đã dần đến được với những nơi tưởng chừng xa xôi nhất. Việc duy trì và phát triển mạng lưới cô đỡ thôn bản cũng chính là tiếp nối những thành quả của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, góp phần thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững về sức khỏe bà mẹ và trẻ em của Việt Nam đến năm 2030.

Nhưng có lẽ, thành công lớn nhất của chương trình không chỉ nằm ở những bản báo cáo hay các chỉ số y tế được cải thiện. Nó hiện hữu trong tiếng khóc đầu đời của một đứa trẻ, trong ánh mắt nhẹ nhõm của người mẹ vừa vượt cạn, trong niềm tin của những gia đình đã biết tìm đến cơ sở y tế thay vì phó mặc sinh nở cho may rủi. Tôi nghĩ đến Se và những người phụ nữ giống chị. Những con người bình dị đã âm thầm biến một chính sách nhân văn thành sự chăm sóc cụ thể trong từng nếp nhà, từng bản làng. Bởi suy cho cùng, giá trị của một chương trình không chỉ được đo bằng những gì đã đầu tư, mà còn bằng những cuộc đời được bảo vệ và những hy vọng được gìn giữ.
Hai mươi lăm năm, biết bao đứa trẻ đã lớn lên. Và trên những miền núi xa xôi, những đôi bàn tay ấy vẫn đang tiếp tục công việc của mình: đón sự sống, giữ niềm tin và lặng lẽ nối dài những bình minh.
Bình minh không chỉ đến từ phía mặt trời
Cuộc trò chuyện với Se rồi cũng đến lúc kết thúc. Ở đầu dây bên kia, giọng chị vẫn vui vẻ, tự nhiên như lúc đầu. Chị kể về những chuyện đã qua bằng sự bình thản của người quen sống với nhọc nhằn. Tôi không nghe thấy ở chị lời than trách, cũng chẳng có ý muốn kể công. Còn tôi, sau cuộc trò chuyện, lại thấy mình mang theo nhiều điều chưa thể khép lại. Tôi nghĩ về những người phụ nữ miền núi đã đi qua bao mùa sinh nở trong thiếu thốn. Nghĩ về những đứa trẻ từng không có cơ hội lớn lên chỉ vì một tai biến không được xử trí kịp thời. Nghĩ về những người cô đỡ đang làm công việc ít người biết đến, với khoản phụ cấp khiêm tốn và trách nhiệm đôi khi lớn hơn rất nhiều điều kiện họ có. Chính sự bình thường ấy khiến câu chuyện của chị trở nên đặc biệt.
Bởi sự hy sinh thầm lặng không phải lúc nào cũng được đo bằng những mất mát lớn lao. Đôi khi, nó được đong đếm bằng những năm tháng một người âm thầm dành cho người khác, bằng những cuộc lên đường không hẹn trước, bằng những đêm không ngủ và những lần trở về khi trời đã gần sáng. Trên cao nguyên Đồng Văn, những nương ngô vẫn xanh lên từ những hốc đá cằn cỗi. Những đứa trẻ được Se đón vào đời rồi sẽ lớn lên, đến trường, đi xa. Có thể một ngày nào đó, chúng không còn nhớ ai đã đỡ mình trong giờ phút đầu tiên.
Tôi đã đi tìm một nhân vật cho tác phẩm của mình. Nhưng sau những câu chuyện của Se, điều ở lại trong tôi không chỉ là một nhân vật. Đó là câu hỏi: Giữa cuộc đời này, có bao nhiêu người đang lặng lẽ giữ lấy sự sống cho người khác mà chưa một lần nghĩ rằng mình đã hy sinh? Đêm rồi sẽ qua trên cao nguyên đá. Ở đâu đó, một người mẹ lại đang chờ ngày sinh nở. Một đứa trẻ lại sắp cất tiếng khóc đầu đời. Và khi có tiếng gọi giữa đêm, người cô đỡ ấy lại lên đường. Bởi có những người không đợi bình minh mới thức dậy. Chính họ đã đi qua bóng tối để đón bình minh về cho người khác./.
Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/nguoi-don-binh-minh-giua-nui-da-169261020160710447.htm
