Người lính già và những ký ức không thể nào quên
Là thương binh, nạn nhân chất độc da cam và người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, ông Trần Mạnh Thường, tổ 4 Thắng Lợi, phường Sông Công tự hào khi nhắc về một thời tuổi trẻ gắn với những năm tháng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Với ông, khi đất nước có chiến tranh, lên đường đánh giặc là nhiệm vụ, là trọng trách thiêng liêng của tuổi trẻ.

Sống lạc quan, tin tưởng vào chủ trương đổi mới của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã mang lại cho cựu chiến binh Trần Mạnh Thường, 86 tuổi luôn khỏe mạnh.
Chiến tranh luôn là ký ức khốc liệt, nhưng với người lính già ấy, đó cũng là những năm tháng đáng tự hào. Ông từng “lăn lộn” qua các chiến trường Quảng Trị, Tây Ninh, An Giang, Long An, Hà Tiên và thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại nước bạn Campuchia. Với ông, khi đất nước có chiến tranh, lên đường đánh giặc là nhiệm vụ, là trọng trách thiêng liêng của tuổi trẻ.
Năm 1963, chàng trai 23 tuổi quê Lý Nhân, tỉnh Hà Nam(trước sáp nhập đơn vị hành chính) tham gia thanh niên xung phong, làm nhiệm vụ xây dựng cầu đường tại tỉnh Yên Bái. Nhờ tích cực công tác, lại ham học hỏi, ông được tổ chức cho đi học trung cấp giao thông, sau đó điều động về tỉnh Lạng Sơn làm cán bộ kỹ thuật cầu đường bộ.
Những ngày tháng ấy, ông cùng đồng đội bạt núi, mở đường, gặp suối sâu thì làm cầu cho xe qua, gặp những đoạn đường hư hỏng lại khắc phục để bảo đảm giao thông. Với tinh thần trách nhiệm, ông luôn nỗ lực cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1968, dù đã gần 30 tuổi, ông xung phong nhập ngũ.
Sau những ngày huấn luyện, ông cùng đơn vị hành quân qua những cánh rừng trụi lá, những khe suối đầy nước nhưng không còn bóng cá. Bộ đội lấy chính nguồn nước ấy để nấu cơm, sinh hoạt. Về sau, ông và đồng đội mới biết đó là vùng rừng núi từng bị máy bay Mỹ rải chất độc hóa học. Hậu quả chiến tranh đã để lại những di chứng nặng nề cho nhiều đồng đội của ông và cả các thế hệ sau.
Đầu năm 1972, trên đường hành quân qua Khe Sanh, đường 9 - Nam Lào, đơn vị ông bị máy bay địch ném bom vào trận địa. Sau trận oanh kích, vì nhiệm vụ hành quân hỏa tốc, đơn vị đưa thương binh đi trước, còn ông ở lại khâm liệm, chôn cất 16 đồng đội.

Các đồng chí lãnh đạo địa phương thường xuyên đến thăm, động viên người có công với cách mạng. (Ảnh chụp trước nhà của cựu chiến binh Trần Mạnh Thường).
Tháng 6-1972, trong một trận đánh tại cánh đồng lớn bên sông Vĩnh Tế (An Giang), đơn vị ông bị địch bao vây. “Tôi bị một viên đạn xuyên lưng, ngất lịm. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình cùng một số đồng đội đang nằm trong bệnh viện của địch”, ông nhớ lại.
Nhờ sự giám sát của Hội Chữ thập đỏ quốc tế, ông và các đồng đội bị thương, bị bắt không bị tra khảo, hành hạ. Sau khi vết thương ổn định, ông bị đưa qua nhiều trại giam rồi đày ra đảo Phú Quốc.
Mang số tù 1399, ông bị quản thúc nghiêm ngặt. Nhưng ngay trong nhà tù của địch, những người cộng sản vẫn bí mật duy trì tổ chức. Các đảng viên bị bắt trước đó đã thành lập Chi bộ 22/12, phân công nhiệm vụ cụ thể như cảnh giới, đào hầm bí mật, tổ chức đấu tranh chống địch khủng bố và chuẩn bị phương án vượt ngục.
Sau Hiệp định Paris được ký kết, ông cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày được trao trả tự do. Ông tiếp tục phục vụ trong quân đội đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất rồi xuất ngũ, về Hà Nội làm giáo viên tại một trường dạy nghề. Cuối năm 1992, ông nghỉ hưu, đưa vợ cùng 3 người con về phường Sông Công, tỉnh Thái Nguyên sinh sống và tích cực tham gia các phong trào tại địa phương.
Ở tuổi 86, ông Thường vẫn giữ tinh thần lạc quan, sức khỏe tốt, luôn tin tưởng vào chủ trương đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên bàn trà, ông trưng ra những tấm huân, huy chương với vẻ mặt vừa tự hào vừa xúc động. Sau giây phút trầm tư, ông nói: “Nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh nhưng đến nay vẫn chưa xác định được danh tính. Nhiều người từng chiến đấu năm xưa bị ảnh hưởng nặng nề bởi chất độc da cam nhưng chưa được hưởng đầy đủ chế độ…”.
Tôi hiểu rằng, những tâm tư của ông và nhiều người dân Việt Nam nữa như ông đang được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị nỗ lực để khỏa lấp dù biết rằng không hề dễ dàng.
Những người cháu nội, cháu ngoại ngồi bên cũng lặng im, như thấu hiểu rằng mỗi câu chuyện của ông là một phần ký ức không thể quên về chiến tranh, về sự hy sinh của một thế hệ đã dành trọn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của dân tộc.
