'Người mẹ Bàn Cờ' và những năm tháng không quên
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, câu chuyện về bà Võ Thị Ba - “Người mẹ Bàn Cờ” - gợi nhắc về một thế hệ phụ nữ đã dành cả cuộc đời cho gia đình và Tổ quốc. Chồng hy sinh, một mình nuôi các con giữa những năm tháng chiến tranh, bà vẫn âm thầm che chở cán bộ, biến nhà bảo sanh thành căn cứ cách mạng và truyền ngọn lửa lý tưởng cho các con. Từ những lựa chọn lặng lẽ mà kiên định, bà để lại câu chuyện đẹp về bản lĩnh, lòng yêu nước và sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam.

Nhắc đến bà Võ Thị Ba, người ta nhớ đến căn nhà ở Bàn Cờ, nơi những cán bộ từng tìm đến nương náu; nhớ lá cờ Tổ quốc được may trong bí mật.
Sinh ra trong một gia đình thương nhân khá giả ở Đồng Nai, từ nhỏ, bà Võ Thị Ba được nuôi dạy chu đáo, có điều kiện học hành. Bà sớm có nghề nghiệp ổn định khi thi đậu bằng nữ hộ sinh. Với vẻ dịu dàng, nền nã cùng sự tháo vát, cô gái trẻ có thể đã có một cuộc sống bình yên như nhiều phụ nữ cùng thời của mình. Nhưng cuộc gặp gỡ với ông Huỳnh Thiện Nghệ đã đưa bà đến một ngã rẽ khác. Ông Nghệ là nhà giáo giàu lòng yêu nước, người sáng lập trường tư thục École Gaillard, còn gọi là trường Cây Da, ở Biên Hòa với mong muốn mở mang dân trí. Hai người kết hôn vào tháng 11/1939. Bà Ba vừa chăm lo gia đình, vun vén việc làm ăn, vừa là người bạn đời chia sẻ những trăn trở của chồng trước vận mệnh đất nước.
Đầu những năm 1940, thời cuộc ngày càng phức tạp. Trước những lựa chọn về con đường hoạt động, khi ông Nghệ có những băn khoăn, bà Ba đã nói với chồng một câu ngắn gọn, dứt khoát: "Đi theo Hồ Chí Minh chớ theo ai!"
Lời khuyên ấy là sự tin tưởng của bà vào con đường mà chồng đang hướng tới. Bà hiểu rằng một khi dấn thân vào cách mạng, cuộc sống gia đình sẽ không còn bình yên như trước. Nhưng bà vẫn ủng hộ ông. Từ một nhà giáo tâm huyết, ông Huỳnh Thiện Nghệ ngày càng gắn bó với phong trào yêu nước, trở thành Thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong tỉnh Biên Hòa, tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và đảm nhiệm những trọng trách trong kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ.
Phía sau người cán bộ ấy là người vợ lặng lẽ lo toan gia đình. Sự đồng lòng của bà đã giúp chồng vững bước trên con đường đã chọn. Bà có lẽ cũng không thể ngờ rằng, sự lựa chọn ấy sẽ khiến mình phải đi qua những năm tháng dài đằng đẵng của chờ đợi và mất mát.

Chân dung bà Võ Thị Ba
Những lời ru trong đêm vắng
Cuối năm 1945, ông Huỳnh Thiện Nghệ được cử ra Bắc báo cáo với Trung ương Đảng về phong trào thanh niên và tình hình chiến sự miền Đông. Ngày tiễn chồng lên đường, bà Ba đang mang thai người con thứ ba. Sau khi ông đi, thực dân Pháp tăng cường khủng bố các cơ sở cách mạng ở Biên Hòa. Là vợ của một thủ lĩnh phong trào yêu nước, bà trở thành đối tượng bị mật thám truy lùng. Bụng mang dạ chửa, hai con còn nhỏ, bà phải rời quê, xuống Sài Gòn lánh nạn.
Cuộc sống nơi đất khách không dễ dàng. Người phụ nữ từng có gia đình đủ đầy giờ phải giấu tên, đổi họ, tìm cách mưu sinh và nuôi ba đứa con. Không có chồng bên cạnh, bà tự mình xoay xở mọi việc, vừa lo cái ăn, cái mặc, vừa tìm cách bảo vệ các con giữa một thành phố đầy những hiểm nguy khó lường. Điều bà có thể dành cho các con, ngoài sự chăm sóc hằng ngày, còn là hình bóng người cha đang ở xa.
Bà Huỳnh Thiện Kim Tuyến, con gái lớn của ông bà, vẫn nhớ những đêm mẹ ôm các con vào lòng, hát và kể về cha: Mẹ tôi mỗi đêm lại hát, lại kể về nỗi nhớ 'ba các con', 'người hùng của mẹ'. Mẹ nén lòng để ba dấn thân cứu nước, và cứ thế hằng đêm, lời ru của mẹ vỗ về chúng tôi chìm vào giấc ngủ."
Trong ký ức của người con gái, mẹ không chỉ là người chịu thương chịu khó, gánh vác gia đình mà còn là người giữ cho các con sợi dây gắn bó với người cha vắng mặt. Những lời ru có nỗi nhớ của người vợ, có tình thương của người mẹ và cả niềm tin bà muốn gửi lại cho con mình. Nhưng người cha mà các con mong ngóng đã không trở về.
Trên đường từ Bắc trở về Nam tiếp tục chiến đấu, ông Huỳnh Thiện Nghệ lâm bệnh nặng và hy sinh tại Thanh Hóa khi mới 32 tuổi. Do chiến tranh chia cắt, tin dữ không đến với bà Ba ngay lúc ấy.
Bà vẫn sống, vẫn nuôi con, vẫn chờ đợi. Không ai biết bà đã trải qua những đêm dài như thế nào, khi trong căn nhà nhỏ chỉ có tiếng con trẻ và nỗi nhớ người chồng nơi xa. Khi biết ông đã hy sinh, bà phải đối diện với sự thật rằng từ nay, các con sẽ lớn lên mà không còn ngày đoàn tụ với cha.
Bà không có nhiều lựa chọn cho riêng mình. Các con cần được nuôi dưỡng, cuộc sống cần tiếp tục, và con đường mà vợ chồng bà từng tin tưởng vẫn còn đó.

Bà Huỳnh Thiện Kim Tuyến (con gái bà Võ Thị Ba và liệt sĩ Huỳnh Thiện Nghệ) trao tặng kỷ vật kháng chiến cho Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
"Người mẹ Bàn Cờ" với nhà bảo sanh giữa lòng Sài Gòn
Sau năm 1954, bằng nghề nữ hộ sinh, bà Võ Thị Ba mở Nhà bảo sanh Người Mẹ Hiền tại khu Bàn Cờ, Sài Gòn, ở địa chỉ nay là số 51/80 đường Cao Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh. Công việc chăm sóc sản phụ giúp bà có kế sinh nhai, đồng thời tạo nên một vỏ bọc thuận lợi để che chở cán bộ cách mạng giữa đô thị do đối phương kiểm soát.
Ngôi nhà có những lối đi và hướng quan sát thuận lợi, giúp người ra vào có thể tìm đường thoát khi gặp nguy hiểm. Bà Tôn Nữ Quỳnh Trân, một cán bộ Thành Đoàn năm xưa, vẫn nhớ nơi ấy như chỗ dựa mỗi khi không còn nơi nào để đi.
"Những lúc phải chạy trốn, không có chỗ nào để ở, tôi lại chạy về với bác Ba", lời kể ngắn gọn của bà Quỳnh Trân là sự tin cậy mà những người hoạt động cách mạng dành cho bà Võ Thị Ba. Họ tìm đến bà không chỉ vì căn nhà có vị trí thuận lợi, mà còn vì biết rằng mình sẽ được cưu mang trong những lúc khó khăn.
Nhà bảo sanh Người Mẹ Hiền dần trở thành nơi in truyền đơn, may cờ Tổ quốc, cất giấu vũ khí và che chở cán bộ. Có thời điểm, hàng nghìn tờ truyền đơn cùng lựu đạn được bà giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ. Người phụ nữ làm công việc đón những sinh linh chào đời hiểu rõ những hiểm nguy đang ở ngay trong ngôi nhà của mình. Nếu bị phát hiện, không chỉ bà mà cả gia đình và những người được che chở đều có thể gặp tai họa. Thế nhưng, bà vẫn âm thầm làm công việc ấy, không phô trương, không kể công.
Một trong những kỷ niệm đặc biệt gắn với căn nhà của bà Võ Thị Ba là lá cờ Tổ quốc rộng tới 5 mét được may trên tầng áp mái, phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Giữa lòng Sài Gòn, trong căn nhà bảo sanh tưởng như chỉ gắn với chuyện sinh nở và chăm sóc gia đình, lá cờ ấy được hoàn thiện trong bí mật, chờ thời điểm xuất hiện giữa thành phố.
Có lẽ, không cần những lời kể lớn lao để hình dung sự bình tĩnh và lòng can đảm của bà Ba. Một người mẹ đơn thân nuôi các con, hằng ngày chăm sóc sản phụ, vẫn dành chỗ trong căn nhà của mình cho những người đang hoạt động cách mạng. Bà đã biến nơi ở và làm việc thành một điểm tựa, bằng sự kín đáo, bền bỉ và lòng tin của mình.
Khi người mẹ trao con cho Tổ quốc
Bà Ba không dạy các con về lý tưởng bằng những lời giáo huấn. Các con bà lớn lên trong những câu chuyện về cha, trong cách mẹ sống và trong những điều mẹ chấp nhận gánh vác. Con gái lớn Huỳnh Thiện Kim Tuyến của bà tham gia phong trào đấu tranh từ khi còn là nữ sinh trường Gia Long. Khi trở thành sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, bà Kim Tuyến được bầu làm Bí thư Chi đoàn sinh viên đầu tiên của trường, đồng thời tham gia tổ Vũ trang- Tuyên truyền Liên quận 1 - 3.
Người con gái Huỳnh Thiện Kỳ Duyên cũng tiếp bước chị. Năm 1972, cả hai chị em bị địch bắt. Trước những đòn tra tấn, họ vẫn giữ vững khí tiết, bảo vệ bí mật tổ chức. Bà Kim Tuyến được trao trả tại vùng giải phóng Lộc Ninh đầu năm 1973, còn bà Kỳ Duyên tiếp tục bị giam cầm cho đến ngày đất nước thống nhất.
Những năm tháng ấy hẳn không dễ dàng với người mẹ. Bà Võ Thị Ba từng mất chồng trong chiến tranh, nay lại chứng kiến các con đi vào con đường đầy hiểm nguy. Nhưng bà vẫn để các con tự lựa chọn và chịu trách nhiệm với con đường mình đã đi.
Mùa xuân năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ, bà Ba một lần nữa khiến nhiều người xúc động bởi quyết định của mình.
Trong cuộc mít tinh tại công viên Tao Đàn, Thành phố Hồ Chí Minh, nghe lời kêu gọi bảo vệ biên cương của Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, bà được dìu lên lễ đài. "Người mẹ Bàn Cờ" khi ấy đã ngoài 60 tuổi cất lời: "Tôi có một đứa con út nó đang học lớp 12, chăm học lắm. Hôm nay, tôi xin trao đứa con của tôi cho Tổ quốc...".
Lời nói của bà Ba khiến nhiều người xúc động. Bà đã đi qua những năm tháng thiếu vắng chồng, một mình nuôi con, rồi chứng kiến hai con gái bị bắt giam. Vậy mà khi đất nước cần, bà vẫn sẵn lòng để người con út lên đường.
Ở người mẹ ấy, tình thương con chưa bao giờ vơi đi. Nhưng tình thương không khiến bà muốn giữ các con bên mình bằng mọi giá. Bà đã lựa chọn con đường ấy cho bản thân và cũng tôn trọng lựa chọn của các con, dù hiểu rằng phía trước có thể là những gian khó không thể đoán trước.
Người con trai út của bà, anh Đỗ Thủ Khoa, khi ấy là học sinh giỏi Trường chuyên Lê Hồng Phong, bước lên và dõng dạc đáp:"Tổ quốc gọi, tôi xin sẵn sàng!"

Con, cháu nội ngoại của bà Võ Thị Ba (ảnh chụp năm 2025)
Những điều còn được tiếp nối
Bà Võ Thị Ba được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì vì những đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người chồng liệt sĩ Huỳnh Thiện Nghệ được truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Bằng Tổ quốc ghi công.
Sau khi bà qua đời, gia đình vẫn tìm cách gìn giữ những điều ông bà từng theo đuổi. Năm 2007, Quỹ học bổng Huỳnh Thiện Nghệ được thành lập, hướng đến học sinh, sinh viên nghèo vượt khó học giỏi và những giáo viên có hoàn cảnh khó khăn. Gần hai thập kỷ qua, quỹ đã trao hơn 1.800 suất học bổng, với tổng trị giá hàng tỷ đồng. Mỗi suất học bổng là một cơ hội để người trẻ tiếp tục việc học, để những ước mơ không phải dừng lại chỉ vì hoàn cảnh khó khăn.
Nhắc đến bà Võ Thị Ba, người ta nhớ đến căn nhà ở Bàn Cờ, nơi những cán bộ từng tìm đến nương náu; nhớ lá cờ Tổ quốc được may trong bí mật; nhớ lời nói của người mẹ khi trao con cho đất nước. Nhưng phía sau những câu chuyện ấy vẫn là một người phụ nữ rất đời thường: Thương chồng, lo cho con, chịu đựng những tháng ngày chờ đợi và lặng lẽ làm những việc mình tin là đúng.
Bà đã đi qua cuộc đời với những mất mát không thể bù đắp. Điều còn lại là những người con tiếp bước cha mẹ, những cán bộ từng được bà cưu mang và những thế hệ học sinh tiếp tục nhận học bổng mang tên người chồng liệt sĩ.
Câu chuyện về "Người mẹ Bàn Cờ" vì thế không chỉ nằm trong những trang sử của một thời chiến tranh. Nó còn được nhắc lại qua những việc làm bình dị hôm nay, như cách gia đình bà tiếp tục nâng đỡ những người trẻ trên con đường học tập, trao truyền lý tưởng và các giá trị tốt đẹp cho mai sau.
