Người nông dân miền núi phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi hiện đại
20.000 con gà mỗi lứa, khoảng 45 ngày cho một chu kỳ nuôi và hàng tỷ đồng doanh thu mỗi năm là những con số tại trang trại của ông Nguyễn Văn Hùng ở xã miền núi Ngọc Trạo, tỉnh Thanh Hóa. Đằng sau quy mô ấy là sự mạnh dạn đầu tư công nghệ, thay đổi tư duy và tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại...

Ông Nguyễn Văn Hùng đầu tư hệ thống chuồng kín, từng bước hiện đại hóa hoạt động chăn nuôi gà. Ảnh: Nguyễn Thuấn
Giữa vùng đồi rừng của xã miền núi Ngọc Trạo, trang trại chăn nuôi gà của gia đình ông Nguyễn Văn Hùng nổi bật với những dãy chuồng quy mô lớn, được đầu tư khép kín. Ít ai nghĩ rằng, từ một hướng đi khởi nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi năm 2014, đến nay ông Hùng đã xây dựng được mô hình kinh tế có quy mô hàng chục nghìn con gà mỗi lứa.
MẠNH DẠN ĐẦU TƯ, THAY ĐỔI CÁCH LÀM
Thay vì chăn nuôi nhỏ lẻ theo phương thức truyền thống, ông Hùng lựa chọn đầu tư bài bản ngay từ đầu. Hiện trang trại có 3 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng khoảng 1.600 m2, được thiết kế theo mô hình chuồng kín, trang bị hệ thống dẫn nhiệt đốt lò để điều chỉnh nhiệt độ phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của đàn gà và điều kiện thời tiết.
Theo ông Hùng, trong chăn nuôi công nghiệp, việc kiểm soát môi trường bên trong chuồng có ý nghĩa quan trọng đối với tốc độ sinh trưởng và sức khỏe của đàn vật nuôi. Nhiệt độ, độ thông thoáng và điều kiện vệ sinh phải được duy trì ổn định, nhất là khi thời tiết miền núi có sự thay đổi giữa các mùa.
Hiện trang trại duy trì khoảng 20.000 con gà thịt, bố trí tại hai chuồng nuôi chính, mỗi chuồng khoảng 10.000 con. Nhờ tổ chức sản xuất theo phương thức gối vụ, hoạt động chăn nuôi được duy trì liên tục: khi một chuồng chuẩn bị xuất bán thì chuồng còn lại đã tiếp nhận lứa gà giống mới.

Hệ thống dẫn nhiệt đốt lò được trang trại đầu tư nhằm duy trì nhiệt độ phù hợp trong chuồng nuôi. Ảnh: Nguyễn Thuấn
Tại thời điểm ghi nhận, một chuồng có 10.000 con gà đã đạt trọng lượng thương phẩm, trong khi chuồng bên cạnh vừa tiếp nhận 10.000 con gà giống mới được 3 ngày tuổi. Cách bố trí này giúp trang trại tận dụng tối đa diện tích, nhân lực và hệ thống chuồng trại đã đầu tư.
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI
Một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả của trang trại là lựa chọn mô hình liên kết với Công ty Japfa để chăn nuôi giống gà trắng Japfa có nguồn gốc từ Mỹ. Thay vì tự xoay xở toàn bộ đầu vào và đầu ra, ông Hùng tham gia chuỗi liên kết, áp dụng quy trình kỹ thuật chăn nuôi của doanh nghiệp kết hợp với kinh nghiệm thực tế tích lũy qua nhiều năm.
Nhờ giống gà có tốc độ sinh trưởng nhanh cùng quy trình chăm sóc phù hợp, thời gian nuôi mỗi lứa chỉ khoảng 45 ngày. Khi đạt trọng lượng bình quân từ 3,3 kg/con, đàn gà được xuất bán theo hợp đồng liên kết. Bình quân mỗi năm, một chuồng có thể quay vòng khoảng 4 lứa.
Với quy mô 10.000 con, mỗi lứa cho sản lượng khoảng 35 - 37 tấn gà thương phẩm. Giá bán theo hợp đồng liên kết đạt khoảng 40.000 đồng/kg. Sau khi trừ các khoản chi phí con giống, thức ăn, vật tư và chăm sóc, mỗi lứa mang lại lợi nhuận khoảng 50 - 70 triệu đồng.
Đối với ông Hùng, chăn nuôi quy mô lớn không đơn thuần là tăng số lượng đàn mà quan trọng hơn là kiểm soát tốt quy trình sản xuất, hạn chế rủi ro và duy trì năng suất qua từng lứa. Trong đó, phòng chống dịch bệnh luôn được đặt lên hàng đầu.
Ông Hùng chia sẻ: “Trong chăn nuôi quy mô lớn, phòng chống dịch bệnh là yếu tố sống còn. Trước khi đón bất kỳ lứa gà giống nào vào chuồng, toàn bộ khu vực nuôi đều phải được vệ sinh nghiêm ngặt, phun thuốc khử trùng triệt để và tuân thủ lịch tiêm vắc-xin định kỳ theo từng giai đoạn tuổi của gà”.

Nhờ áp dụng quy trình kỹ thuật và lựa chọn giống có tốc độ sinh trưởng nhanh, mỗi lứa gà chỉ mất khoảng 45 ngày nuôi. Ảnh: Nguyễn Thuấn
Việc tuân thủ quy trình vệ sinh, khử trùng và tiêm phòng giúp trang trại chủ động hơn trong kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ đàn vật nuôi và duy trì hoạt động sản xuất ổn định. Đây cũng là kinh nghiệm được ông đúc rút sau hơn một thập kỷ gắn bó với nghề chăn nuôi.
Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình, trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10 - 20 lao động địa phương, với mức thu nhập từ 7 - 9 triệu đồng/người/tháng. Qua đó, mô hình góp phần tạo sinh kế, giúp người dân khu vực miền núi có thêm cơ hội làm việc ngay tại quê hương.
Từ những dãy chuồng nuôi được đầu tư đồng bộ trên vùng đồi rừng Ngọc Trạo, câu chuyện làm kinh tế của ông Nguyễn Văn Hùng cho thấy hướng đi mới trong phát triển chăn nuôi ở khu vực miền núi. Khi người nông dân mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất, tiếp cận tiến bộ kỹ thuật và tham gia liên kết với doanh nghiệp, lợi thế đất đai, lao động tại địa phương có thể được khai thác hiệu quả hơn.
