Người Việt Nam máu đỏ, da vàng - Bài 4: Nhà văn 90 tuổi rong ruổi gom góp ký ức của gần 100 bà mẹ Việt Nam anh hùng

Từng tham gia kháng chiến cứu nước, cựu chiến binh Nguyễn Minh Thắng ở tuổi ngoài 90 vẫn minh mẫn kể lại ký ức chiến tranh bằng giọng nói hào sảng. Mang nặng nỗi trăn trở về những câu chuyện chưa được kể của các bà mẹ Việt Nam Anh hùng, ông đã rong ruổi suốt 5 năm trên chiếc xe đạp cũ, ghi chép gần 100 câu chuyện để lưu giữ ký ức và nhắc thế hệ hôm nay thêm trân trọng giá trị của hòa bình.

Thiết kế: Mỹ Huyền

Thiết kế: Mỹ Huyền

Chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, chùm bài "Người Việt Nam máu đỏ, da vàng" là hành trình bằng mắt thấy, tai nghe về sức mạnh của khối đại đoàn kết.

Từ niềm tự hào dòng máu lạc hồng đến khát vọng cống hiến của mỗi cá nhân, tin rằng: Khi triệu trái tim cùng chung nhịp đập, sức mạnh nội sinh ấy sẽ là bệ phóng vững chắc đưa Việt Nam vươn mình giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Đồng chí Nguyễn Minh Thắng kể cho tôi nghe rằng mình tham gia kháng chiến khi chỉ mới 15–16 tuổi. Ở cái tuổi mà ngày nay nhiều người trẻ vẫn còn đang loay hoay tìm hướng đi cho mình, thì thế hệ của ông đã sớm gánh trên vai vận mệnh của non sông.

Đồng chí Nguyễn Minh Thắng - cựu chiến binh từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và tiếp quản Thủ đô năm 1954. Không chỉ cầm súng trong những năm tháng chiến tranh, ông còn cầm bút, lặng lẽ viết nên những áng văn, áng thơ đi cùng ký ức của một thời đã qua.

Đồng chí Nguyễn Minh Thắng - cựu chiến binh từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và tiếp quản Thủ đô năm 1954. Không chỉ cầm súng trong những năm tháng chiến tranh, ông còn cầm bút, lặng lẽ viết nên những áng văn, áng thơ đi cùng ký ức của một thời đã qua.

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông làm quân báo, công việc mà theo lời đồng chí là “địch giấu cái gì thì mình phải tìm ra cái đấy cho bằng được”. Người lính trẻ khi ấy phải len lỏi vào các đồn bốt của địch để nắm tình hình quân số, súng đạn và bố phòng. Mỗi nhiệm vụ đều căng thẳng như bước trên lưỡi dao mỏng, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một ánh nhìn bất cẩn. Nhưng giữa hiểm nguy, lòng yêu nước đã hun đúc nên bản lĩnh của một lớp người anh hùng.

Ở tuổi ngoài 90, khi mà con người ta dần quên đi cả những điều gần gũi nhất, đồng chí Thắng vẫn say sưa, không chút lầm lẫn kể về những trận đánh mà ông từng tham gia, về những kỷ niệm của một thời khó khăn, gian khổ cùng những người đồng đội đã từng sát cánh bên nhau trong những năm tháng bom rơi đạn lạc.

Ở tuổi ngoài 90, khi mà con người ta dần quên đi cả những điều gần gũi nhất, đồng chí Thắng vẫn say sưa, không chút lầm lẫn kể về những trận đánh mà ông từng tham gia, về những kỷ niệm của một thời khó khăn, gian khổ cùng những người đồng đội đã từng sát cánh bên nhau trong những năm tháng bom rơi đạn lạc.

Sau hai năm làm quân báo, ông chuyển sang trực tiếp chiến đấu trên nhiều mặt trận, rồi theo đơn vị tiến vào Điện Biên Phủ - chiến dịch đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản hùng ca “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Ông kể mình có mặt từ những ngày đầu cho tới thời khắc cuối cùng của chiến dịch. Thế nhưng, điều người lính già khắc khoải hơn cả là những tháng ngày khốc liệt đến tận cùng của chiến tranh.

Những ký ức xưa cũ vẫn sống mãi trong tâm khảm của người cựu binh kiên trung.

Những ký ức xưa cũ vẫn sống mãi trong tâm khảm của người cựu binh kiên trung.

“Có những thời kì chúng tôi có thể là 3-4 tháng không được đủ ăn, không được tắm, không được đánh răng, không được rửa mặt. 3-4 tháng đấy, chứ không phải là 3-4 tuần đâu”, ông nhớ lại.

Giữa núi rừng hun hút khói bom, những người lính sống bằng cơm nắm, gạo rang và vài phần lương thực ít ỏi mà anh nuôi kiếm được để chuyền tay nhau nơi chiến hào.

Tuổi trẻ của họ bị chiến tranh bào mòn trong bùn đất, trong sốt rét, trong cái đói cồn cào và những đêm trắng chờ tiếng súng khai hỏa. Nhưng cũng chính trong những năm tháng dữ dội ấy, một thế hệ đã trưởng thành bằng lý tưởng lớn hơn cả mạng sống của mình.

“Thế hệ chúng tôi cực khổ lắm, cực vất vả, cực khổ sở”, ông nói, giọng chùng xuống như chạm vào những tầng sâu nhất của ký ức. Tuổi trẻ của họ đã đi qua như thế. Âm thầm, nhẫn nại và cháy đến tận cùng cho một Tổ quốc hôm nay được nở hoa trong hòa bình.

Gìn giữ phẩm chất “cần - kiệm - liêm - chính” của người lính Bộ đội Cụ Hồ giữa thời bình

Gìn giữ phẩm chất “cần - kiệm - liêm - chính” của người lính Bộ đội Cụ Hồ giữa thời bình

Sau 12 năm sống trong quân ngũ, ông rời quân đội, chuyển qua nhiều công việc khác nhau, từ ngành công nghiệp đến đứng lớp tại trường công nhân kỹ thuật của Tổng cục Lâm nghiệp. Nhưng có những ký ức không chịu ngủ yên. Những mảng ký ức chiến tranh ấy vẫn âm ỉ cháy như than hồng dưới lớp tro tàn của thời gian, lặng lẽ gõ cửa tâm trí người lính già trong từng đêm mất ngủ, trong nỗi nhớ đồng đội và cả trong ánh mắt xa xăm của những bà mẹ già ngồi tựa cửa ngóng đứa con mãi mãi không trở về. Có lẽ cũng từ những day dứt ấy mà đồng chí Thắng bén duyên với nghiệp cầm bút.

Câu chuyện của đồng chí đã để lại trong chúng tôi nhiều suy nghĩ. Đó không chỉ là động lực để thế hệ trẻ hôm nay sống trách nhiệm hơn, mà còn là lời nhắc về giá trị của từng con chữ khi được viết ra từ ký ức thật và lòng yêu nước chân thành.

Câu chuyện của đồng chí đã để lại trong chúng tôi nhiều suy nghĩ. Đó không chỉ là động lực để thế hệ trẻ hôm nay sống trách nhiệm hơn, mà còn là lời nhắc về giá trị của từng con chữ khi được viết ra từ ký ức thật và lòng yêu nước chân thành.

Mỗi trang viết của ông đều thấm đẫm tinh thần của một thế hệ từng đi qua chiến tranh, từng sống vì Tổ quốc và lặng lẽ giữ lại lịch sử bằng chính ngòi bút của mình.

Mỗi trang viết của ông đều thấm đẫm tinh thần của một thế hệ từng đi qua chiến tranh, từng sống vì Tổ quốc và lặng lẽ giữ lại lịch sử bằng chính ngòi bút của mình.

Từ năm 1953, khi còn là người lính, ông đã bắt đầu viết thơ và viết báo cho các ấn phẩm trong quân đội. Nhưng phải đến nhiều năm sau, ông mới thực sự tìm thấy điều khiến mình day dứt và mong muốn được gắn bó sâu sắc nhất trong hành trình văn chương của mình, đó là hình tượng những Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Ông kể, vào khoảng năm 1985, một biên tập viên của Nhà xuất bản Quân đội từng nói với ông: “Thôi bác biết văn thì bác đi viết về mẹ Việt Nam Anh hùng đi”. Câu nói ấy như đánh thức điều đã nằm sâu trong tâm khảm người lính già bấy lâu nay. “Những người mẹ hy sinh tất cả cho đất nước, cho nhân dân, cho dân tộc mà không viết về người ta thì viết ai nữa”, ông trầm giọng.

Và rồi, từ một chiếc xe đạp cọc cạch, hành trình lặng lẽ nhưng phi thường ấy bắt đầu. Một mình rong ruổi qua những miền quê Hà Tây cũ, ông tìm đến từng mái nhà có mẹ Việt Nam Anh hùng sinh sống. Đó là những ngôi nhà nghèo nép mình bên lũy tre làng, nơi có những người mẹ đã dành gần như cả cuộc đời để tiễn chồng, tiễn con ra chiến trận. Có mẹ sống cô quạnh trong căn nhà trống vắng. Có mẹ ôm di ảnh con suốt mấy chục năm trời như ôm phần ký ức cuối cùng còn sót lại của đời mình.

Chân dung những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc trong các trang viết của đồng chí.

Chân dung những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc trong các trang viết của đồng chí.

Suốt 5 năm ròng rã, ông đi qua 25 huyện thị, gặp gỡ hàng trăm Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, ngồi hàng giờ lắng nghe từng cuộc đời được kể lại bằng nước mắt và sự nhẫn nại của những người đàn bà đã đi qua tận cùng mất mát. Người lính già năm ấy chậm rãi chép tay từng câu chuyện như nhặt nhạnh lại những mảnh ký ức đang dần phủ bụi thời gian.

Có những đêm trở về, người ông rã rời sau quãng đường dài, nhưng trong lòng lại nặng thêm bởi những câu chuyện vừa nghe được. Những cuộc đời ấy ám ảnh ông đến mức không thể không viết. “Không có mẹ nào giống mẹ nào. Nhưng tất cả các mẹ có một cái chung, đó là nỗi đau mất con, mất chồng. Cái khoảng trống mà cả quãng đời còn lại không gì lấp đầy được”, ông nói.

Những người phụ nữ “cả cuộc đời chưa ra khỏi chân rơm gốc rạ”, nhưng lại mang trong mình sự hy sinh lớn lao hơn bất cứ tượng đài nào.

Những người phụ nữ “cả cuộc đời chưa ra khỏi chân rơm gốc rạ”, nhưng lại mang trong mình sự hy sinh lớn lao hơn bất cứ tượng đài nào.

Chính từ những chuyến đi ấy, các cuốn sách về Bà mẹ Việt Nam Anh hùng lần lượt ra đời. Với ông, đó không đơn thuần là văn chương, mà còn là một cách lưu giữ ký ức dân tộc.

Trong suy nghĩ của người lính già ấy, những áng văn được viết ra không chỉ để kể chuyện, mà còn là trách nhiệm với lịch sử. Ông viết để thế hệ sau hiểu rằng, phía sau những trang sử hào hùng của dân tộc là bóng dáng của biết bao người mẹ âm thầm gánh chịu đau thương.

Điều đặc biệt hơn cả là hành trình ấy được bắt đầu hoàn toàn từ cái tâm của người viết. Không tài trợ, không lợi ích vật chất, không những chuyến đi được trải sẵn điều kiện. Người lính già chỉ mang theo chút quà nhỏ, vài lời hỏi han rồi lặng lẽ ngồi nghe các mẹ kể chuyện đời mình. “Các mẹ có cái gì đâu. Hai bàn tay trắng thôi”, ông nói. Có lẽ vì thế mà những trang viết của ông không chỉ mang hơi thở của văn chương, mà còn mang dáng dấp của một nén tâm nhang dành cho ký ức. Một sự cúi đầu lặng lẽ của người còn sống trước những hy sinh đã làm nên hình hài đất nước hôm nay.

Khi tôi hỏi liệu ngay từ đầu ông có nghĩ hành trình ấy sẽ kéo dài đến vậy hay không, ông chỉ cười rồi đáp: “Cũng chẳng ai nghĩ được đến như thế. Tự nhiên rồi nó cứ đến, mình cứ đi thôi”.

Ban đầu, ông chỉ định viết một tập sách. Nhưng rồi hết chuyến đi này đến chuyến đi khác, hết cuộc đời này đến cuộc đời khác, những câu chuyện cứ níu chân người cầm bút già ở lại. Viết xong tập đầu, nhà xuất bản lại đề nghị ông viết tiếp. Rồi thêm một tập nữa. Và cứ thế, hành trình ấy kéo dài suốt nhiều năm.

Một kho tàng văn chương giàu cảm xúc, thấm đẫm hơi thở của một thời đại oai hùng.

Một kho tàng văn chương giàu cảm xúc, thấm đẫm hơi thở của một thời đại oai hùng.

Thế nhưng, tìm đến được đúng địa chỉ mới chỉ là bước khởi đầu. Điều khó nhất là làm sao chạm vào được những ký ức đã bị khóa chặt suốt hàng chục năm trời. Ông hiểu, có những nỗi đau quá lớn khiến người ta chọn cách chôn vùi vào im lặng. Vì thế, muốn nghe được câu chuyện thật, phải học cách lắng nghe bằng sự đồng cảm của một người từng đi qua chiến tranh. “Không có ai kể cho mình cả một cuộc đời như thế đâu”, ông chậm rãi nói. Có những buổi trò chuyện đang dang dở thì mẹ bật khóc, những giọt nước mắt muộn màng rơi xuống sau hàng chục năm nén chịu. Khi ấy, ông không hỏi thêm nữa. Người viết chỉ ngồi im, động viên để mẹ nguôi ngoai, bởi ông thấu hiểu rằng: “Muốn viết được về họ, trước hết phải biết cúi mình xuống trước số phận của họ”.

Nhiều người từng hỏi ông: những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng thì “có gì mà viết”. Nhưng càng đi sâu vào từng cuộc đời, ông càng nhận ra phía sau dáng vẻ lam lũ của các mẹ là cả một lớp trầm tích đau thương của lịch sử. “Trong cái cuộc đời sâu cay của người ta biết bao nhiêu sự kiện”, ông nói.

Đồng chí Thắng lựa chọn khai thác những câu chuyện rất gần gũi, mộc mạc nhưng giàu sức lay động.

Đồng chí Thắng lựa chọn khai thác những câu chuyện rất gần gũi, mộc mạc nhưng giàu sức lay động.

Nhưng cũng chính vì quá hiểu nỗi đau con người, ông càng cẩn trọng với từng chi tiết đưa vào trang sách. Có những câu chuyện đời tư buồn đến quặn thắt, nhưng cuối cùng ông chọn lược bỏ vì không muốn làm tổn thương người còn sống. “Mình phải cân nhắc chứ”, ông nói. “Có những điều nếu viết ra thì con cháu người ta xấu hổ”.

Trong hành trình ấy, nhiếp ảnh gia Thái Ngọc Linh trở thành người bạn đồng hành đặc biệt của ông. Nhưng để chụp được một bức ảnh các mẹ cũng cần sự kiên nhẫn gần như hành hương. “Không phải vào là bấm máy được ngay đâu”, ông kể. Người nghệ sĩ phải ngồi hàng giờ để chờ khoảnh khắc người mẹ buông xuống lớp vỏ bình thản cuối cùng. Có khi là ánh mắt chùng xuống khi nhắc tên con. Có khi là bàn tay run run giữa câu chuyện dang dở. “Khi các mẹ xúc động nhất thì nhà nhiếp ảnh mới bắt được cái hồn, cái thần”, đồng chí Thắng nói.

Những câu chuyện về các Bà mẹ Việt Nam anh hùng không chỉ được lưu giữ trên trang giấy, mà sẽ còn tiếp tục sống mãi trong lòng người trẻ hôm nay bằng sự xúc động, biết ơn và lòng trân trọng đối với quá khứ.

Những câu chuyện về các Bà mẹ Việt Nam anh hùng không chỉ được lưu giữ trên trang giấy, mà sẽ còn tiếp tục sống mãi trong lòng người trẻ hôm nay bằng sự xúc động, biết ơn và lòng trân trọng đối với quá khứ.

Từ những trang viết về chiến tranh và những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đồng chí Thắng luôn giữ cho mình một quan niệm rất rõ ràng về nghề viết. Ông cho rằng người cầm bút trước hết “phải xác định mình là người truyền tải cái này để lại cho đời sau. Thì mình phải trung thực và mình phải nói lên sự thật đó”.

Dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, đồng chí Thắng vẫn giữ tinh thần lạc quan và niềm yêu đời khiến người đối diện không khỏi xúc động.

Dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, đồng chí Thắng vẫn giữ tinh thần lạc quan và niềm yêu đời khiến người đối diện không khỏi xúc động.

Dù đã chạm ngưỡng 90, đôi tay không còn vững, đôi mắt cũng đã mờ đi nhiều, nhưng ông vẫn chưa bao giờ cho phép mình ngừng viết. Ông ví trí nhớ như một con dao quý, nếu không mài thì sẽ cùn, và với ông, việc viết chính là cách để “mài” trí tuệ mỗi ngày. Dẫu có những lúc lực bất tòng tâm, muốn viết một cuốn tiểu thuyết mới mà tay run, mạch suy nghĩ bị ngắt quãng, ông vẫn không bỏ cuộc. Ông chuyển sang những bài thơ, những dòng cảm xúc nhỏ gửi bạn bè, như cách để giữ cho tâm hồn luôn tươi trẻ và nhạy cảm với đời.

"Mình khác nào như con dao ý mà, nếu không mài thì nó cùn nên bắt buộc phải mài liên tục. Thế cho nên bắt buộc mình phải viết, viết thì trí não nó mới bắt đầu hoạt động," đồng chí Thắng chia sẻ.

"Mình khác nào như con dao ý mà, nếu không mài thì nó cùn nên bắt buộc phải mài liên tục. Thế cho nên bắt buộc mình phải viết, viết thì trí não nó mới bắt đầu hoạt động," đồng chí Thắng chia sẻ.

Kỷ niệm mà đồng chí "không thể quên trong cuộc đời người lính".

Kỷ niệm mà đồng chí "không thể quên trong cuộc đời người lính".

Khi nói về thế hệ sau, ánh mắt người lính già vẫn luôn ánh lên niềm tin bền bỉ. Ông không muốn dạy bảo những điều cao siêu, chỉ nhắc về cái “Tâm” và cái “Đức” – thứ gốc rễ làm nên một con người trọn vẹn. Ông bảo, giữa cuộc đời đầy những biến động và cạm bẫy, người trẻ chỉ cần giữ được cái tâm sáng, sống tử tế thì mọi việc làm đều sẽ có giá trị.

Lời dặn của ông nhẹ nhàng mà sâu sắc: “Hãy tự mình vươn lên, tự mình làm lấy”. Đó không chỉ là lời khuyên, mà là sự gửi gắm. Bởi ông hiểu rằng, những trang sử hào hùng mà ông dày công gìn giữ không nên chỉ nằm im trong ngăn tủ hay kệ sách, mà phải được “sống” tiếp trong bản lĩnh của người trẻ.

Nhìn người lính già ngồi đó, bên giá sách tầng trong tầng ngoài, ta hiểu rằng hành trình “nhặt lại ký ức” của ông đã thành công nhất không phải ở số lượng tác phẩm, mà ở việc ông đã thắp lên một ngọn lửa tử tế. Ngọn lửa ấy, giờ đây đã được chuyển lại cho chúng ta – để mỗi người trẻ không chỉ biết ơn quá khứ, mà còn biết sống sao cho xứng đáng với những gì cha ông đã gửi lại, bằng chính sự nỗ lực chân thành và một cái tâm trong sáng.

Tin ảnh: Trọng Nghĩa

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/nguoi-viet-nam-mau-do-da-vang-bai-4-nha-van-90-tuoi-rong-ruoi-gom-gop-ky-uc-cua-gan-100-ba-me-viet-nam-anh-hung-10417656.html