Người vợ Biệt động 58 năm ôm ký ức đêm địch mang chồng về trước cửa
Năm 1968, ông Trần Phú Cương hy sinh trong trận Đài phát thanh Sài Gòn. Địch đưa ông về trước cửa tiệm may để nhử người thân, bà Út nén đau thương, quyết không để lộ hầm bí mật.

Hẹn ngày về
Người vợ Biệt động 58 năm ôm ký ức đêm địch mang chồng về trước cửa
Vi Lê - Quang Thông
_____
Năm 1968, ông Trần Phú Cương hy sinh trong trận Đài phát thanh Sài Gòn. Địch đưa ông về trước cửa tiệm may để nhử người thân, bà Út nén đau thương, quyết không để lộ hầm bí mật.
Ở tuổi 93, trí nhớ của bà Trần Thị Út (sống tại phường Bình Thạnh, TP.HCM), vợ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Phú Cương, như ánh chiều chạng vạng, chuyện mấy mươi năm trước có lúc nhớ, lúc quên. Nhưng đêm 30 Tết Mậu Thân 1968 thì suốt đời bà không sao quên được.
Đêm đó, địch đưa người chồng bà yêu thương đặt ngay trước cửa tiệm may của gia đình, sau trận đánh vào Đài phát thanh Sài Gòn của Đội 4 Biệt động.
Xóm giềng xung quanh hé cửa nhìn ra. Bà Út đứng bên trong điếng người, nhưng không dám bật ra một tiếng động nào. Trong thâm tâm, bà biết chồng đã hy sinh. Nén nỗi bi thương, bà tìm cách đưa các con và đồng đội của chồng dưới hầm vũ khí thoát thân.
Cuộc trốn chạy đêm Mậu Thân
Ngược quá khứ về năm 1963, Anh hùng liệt sĩ Trần Phú Cương bàn với vợ mua căn nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm để mở tiệm may, đặt tên là Tiệm may Quốc Anh. Trước khi trở thành một mắt xích kiên trung trong mạng lưới Biệt động thành, bà Út chỉ là cô thợ may chân chất.
"Hồi đó gặp ổng lúc tôi mới hơn 20 tuổi, có ông chú ở kế bên làm mai. Ổng từ ngoài Bắc vào học nghề thợ mộc, còn tôi là thợ may. Gặp nhau, ưng bụng rồi cưới, chứ có yêu đương gì như bây giờ", bà nhớ lại mối duyên lành năm ấy.
Từ khi mua nhà, bà Út cứ ngỡ cuộc sống gia đình sẽ êm đềm trôi qua bên bàn may và xấp vải. Trong mắt bà, chồng là người thợ mộc cần mẫn, có tham gia cách mạng nhưng cụ thể làm gì thì bà không hay biết.
Chỉ đến những ngày giáp Tết Mậu Thân 1968, các sự kiện bất thường mới dồn dập kéo đến. Ông Cương liên tục giục vợ dắt con về bên ngoại chơi. Đâu ai ngờ những lúc vắng nhà, ông cùng đồng đội gấp rút hoàn thiện căn hầm bí mật ngay dưới chiếc tủ gỗ để giấu vũ khí. Lần khác, ông xé đôi tờ tiền một đồng cũ, giao bà giữ một nửa và dặn có người cầm nửa còn lại đến so khớp mép xé đúng mới được mở cửa.
Đến chiều 30 Tết, ông Cương vốn hay ra ngoài nay lại ở nhà cả ngày, rồi dắt nhiều khách lạ về. Ông kéo chiếc tủ gỗ sang một bên, mở miệng hầm bí mật. Giữa căn phòng, một tấm bản đồ được trải ra, những cái đầu ghé sát vào nhau bàn kế hoạch tác chiến.
Đó cũng là lần đầu tiên bà Út biết chồng mình là chiến sĩ Biệt động Sài Gòn. Mục tiêu của trận đánh đêm ấy là Đài phát thanh, chỉ cách căn nhà chưa đầy 100 m.
"Hóa ra ông ấy nhất quyết mua căn nhà này không chỉ để mở tiệm may. Mọi việc đều đã được tính từ trước", bà nhớ lại.

Bà Út trí nhớ sụt giảm nhưng vẫn không thể quên ký ức bi thương đêm 30 Tết Mậu Thân 1968.
Trước lúc lên đường, ông Cương lặng lẽ cầm quả táo trên bàn, cắn một nửa rồi trao nửa còn lại vào tay vợ. Nửa quả táo ấy vĩnh viễn trở thành kỷ vật cuối cùng, lưu giữ vị ngọt dở dang của một mái ấm gia đình giữa dòng chảy khốc liệt của chiến tranh.
Nói về khoảnh khắc chia ly định mệnh ấy, bà Út trải lòng bằng sự điềm tĩnh đến thắt lòng: "Lúc đó tôi không khóc, cũng không níu kéo. Bình tĩnh lắm, đến giờ nghĩ lại tôi cũng không hiểu sao mình lại bình tĩnh như vậy".
Đội rời đi chừng 20 phút thì tiếng súng nổ rền từ phía Đài phát thanh vọng lại. Căn nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ cách mục tiêu chừng trăm mét nên nhanh chóng trở thành một trong những điểm bị khống chế. Bà Út nép sau cánh cửa sắt hé mắt nhìn ra ngoài. Từ phía ngôi nhà thờ đối diện, đạn bắn xối xả sang, găm chi chít lên cánh cửa sắt, tóe lửa giữa màn đêm. Tiếng súng dồn dập, mấy đứa nhỏ đang ngủ giật mình khóc thét.
Trong khoảnh khắc ấy, bà Út chợt nhớ đến người thợ sửa xe đạp lạ mặt xuất hiện nhiều ngày trước. Ông ta hiếm khi sửa xe, quần áo lại phẳng phiu, chỉ ngồi chăm chăm nhìn vào nhà bà.
Một lúc sau, tiếng súng im bặt. Bà hé cửa thấy địch mang thi thể ông Cương đặt ngay trước nhà. Xóm giềng xung quanh đứng nhìn, tay bụm miệng nhưng không dám mở lời. Bà Út đứng bên trong, tim thắt lại nhưng cắn răng để không phát ra tiếng động.
"Chúng đã lần ra tôi là vợ ông Cương từ trước. Sau khi bắn hạ chồng, mục tiêu tiếp theo chính là tôi cùng những người còn ở lại căn nhà", bà nói.

5 người con của liệt sĩ Trần Phú Cương và bà Trần Thị Út, cô bé ở vị trí cao nhất (ngoài cùng tay phải) là con gái cả. Bé ẵm trên tay là bà Trần Thị Liên, con út.
Nén lại cơn đau xé lòng, bà Út hiểu mình phải sống tiếp để tiếp nối nhiệm vụ của chồng. Bà nhanh tay gom giấy khai sinh dưới căn hầm đưa cho cô giao liên, nhờ dắt 3 đứa con lớn qua cầu Bông, xuống Bà Chiểu, rẽ vào hẻm gần Lăng Ông giao cho bà ngoại. Trót lọt, cô giao liên quay lại bồng tiếp 2 đứa nhỏ, trong đó có bé út, là bà Trần Trang Liên mới 10 tháng tuổi, mang xuống gửi nốt.
Căn nhà vắng ngắt. Chuẩn bị khóa cửa tìm đường lui, bà Út sực nhớ dưới hầm vẫn còn hai đồng đội của chồng rút về kịp là ông Tư Tăng và ông Ba Tẻo (tên thật Đặng Xuân Tẻo).
Bà dời chiếc tủ gỗ, mở nắp hầm báo tin cho hai chiến sĩ bên dưới rằng chồng mình đã hy sinh. Bà vội gọi hai người lên, lấy quần áo cũ của chồng đưa họ ngụy trang. Ông Ba Tẻo nhỏ người, mặc vừa vặn, ông Tư Tăng cao lớn mặc bị cộc nhưng tình thế cấp bách, đành chấp nhận. Xong xuôi cũng là lúc trời sáng tỏ, bà Út cầm chổi bước ra hiên giả vờ quét dọn, quơ chổi hất bụi lên cao, đập đập vào tường làm hiệu báo đường trống để hai chiến sĩ cách mạng tẩu thoát.
Lo xong cho con và đồng đội, bà Út tự độn đống khăn tắm vào bụng giả làm sản phụ sắp sinh rồi bước ra đường. Bà ôm bụng nhăn nhó báo đau đẻ để qua mắt các bốt gác lính ngụy, đi thẳng về nhà bảo sanh trên đường Hai Bà Trưng. Nằm chờ y tá sơ hở, bà lẻn ra cửa sau, tháo bỏ đống khăn độn bụng rồi hòa vào dòng người ngoài phố.
Tránh được mắt địch nhưng biết ngụy quyền đang ráo riết truy bắt vợ của "tên biệt động Năm Mộc", bà Út không thể quay lại tiệm may, cũng không thể về nhà cha mẹ đẻ vì sợ lụy đến người thân. Bà ghé tạm nhà họ hàng bên chồng trên đường Hồng Thập Tự, nay là Nguyễn Thị Minh Khai. Hai ngày sau, gia đình bên chồng giúp móc nối với người giao liên, dắt bà rút thẳng ra chiến khu Củ Chi.
KÝ ỨC VỀ "BÀ BA BÁN MÍT"
Ở căn cứ Củ Chi năm 1969, cuộc sống thiếu thốn và đầy hiểm nguy. Tổ chức từng đưa đứa con gái nhỏ ra rừng ở với bà Út, nhưng chỉ sau một ngày, thấy con không chịu nổi cái rét và muỗi rừng, bà đành gửi con trở lại nội thành cho bà ngoại và em gái nuôi dưỡng. Tấm ảnh chụp 5 đứa con ngồi xếp hàng năm 1969 trở thành kỷ vật duy nhất bà mang theo bên mình.
Một thời gian sau, bà Út quay về nội thành hoạt động bí mật với vai trò giao liên. Để qua mắt địch, người phụ nữ từng có tiệm may khang trang trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm khoác lên mình một thân phận mới là người bán trái cây dạo.
Bà Trần Trang Liên, con gái út của ông Cương và bà Út, nhớ lại: "Lúc đó tôi chừng 4-5 tuổi, trưa nào ngủ dậy cũng nghe tiếng rao ngoài hẻm: 'Ai mít chín không, Ai mua mít không'. Hễ nghe tiếng rao là bà ngoại biết mẹ về, liền mở cửa gọi bà bán mít vào nhà", bà Liên nhớ lại.

Bà Liên cùng mẹ xem lại cuốn album về đám tang cha, sau khi tìm thấy bộ hài cốt ở nghĩa trang Chí Hòa cũ, là công viên Lê Thị Riêng bây giờ.
Lũ trẻ khi ấy háo hức ùa ra sân. Bà Liên lấy mảnh giấy lịch, hí hoáy vẽ vài con số rồi chìa ra làm tiền mua mít. Người bán hàng bật cười, tỉ mẩn xẻ từng múi mít chín thơm lừng cho mấy đứa nhỏ. Thi thoảng, từ dưới đáy gánh hàng, bà còn lấy ra chiếc váy mới, vài món đồ chơi nhỏ trao tận tay các con.
"Lúc đó tôi thấy vui mỗi khi gặp 'bà Ba bán mít' vì vừa ăn mít ngon vừa có quà, đâu biết đó chính là mẹ mình", bà Liên kể.
Phải đến ngày 30/4/1975, một người phụ nữ mặc quân phục giải phóng, cổ quàng khăn rằn, bên hông đeo khẩu súng ngắn bước vào nhà. Người lớn òa khóc ngày đoàn tụ, bà Liên cũng khóc nhưng là vì sợ.
"Tôi sợ lắm. Trong đầu chỉ nghĩ sao bà Ba bán mít hôm nay lại mặc đồ bộ đội, còn mang cả súng", bà Liên nói.
Đêm đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, mấy mẹ con nằm chung trên chiếc phản gỗ. Nửa đêm tỉnh giấc, thấy một người phụ nữ nằm sát bên mình, cô bé bật khóc nức nở vì sợ người lạ. Nghe ngoại giải thích, bà Liên dần chấp nhận "bà Ba bán mít" là mẹ mình.
Sau ngày hòa bình, bà Út tham gia công tác bên quận đội, sau đó làm Bí thư Phường 4, Quận 1 (nay là phường Tân Định) cho đến khi nghỉ hưu. Dù cuộc sống dần đi vào ổn định, việc tìm lại hài cốt của Anh hùng liệt sĩ Trần Phú Cương vẫn là trăn trở đau đáu suốt nhiều năm của gia đình.



Những kỷ vật về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Phú Cương được gia đình cất giữ nhiều thập kỷ qua.

Năm 1998, nhờ sự hỗ trợ từ đồng đội của ông Cương và chỉ dẫn của linh cảm, bà Út cùng các con tổ chức tìm kiếm tại khu vực nghĩa địa Chí Hòa cũ (nay là công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, TP.HCM). Ở đó, gia đình tìm thấy hai bộ hài cốt, được cho là của ông Cương và một đồng đội.
Thời đó, công nghệ ADN chưa phát triển, gia đình bà Út đón một bộ hài cốt về an táng và tin rằng người chồng, người cha của mình đã trở về sau 30 năm.
Đến nay, để gạt bỏ mọi nghi ngại và đảm bảo tính chính xác khoa học, gia đình bà Liên chủ động liên hệ với Bộ Tư lệnh TP.HCM, xin lấy mẫu hài cốt từ ngôi mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM để tiến hành giám định ADN.
Đi qua bão táp của thời hoa lửa, bà Út ở tuổi 93 giờ đây sống bình yên bên con cháu, đọc sách báo mỗi ngày. Trí nhớ bà Út mờ phai theo năm tháng, nhưng bóng hình người chồng ngã xuống đêm Mậu Thân vẫn là khoảng sâu lắng nhất trong tim.
Gia đình mong rằng kết quả ADN sắp tới sẽ là bến đỗ cuối cùng cho hành trình đằng đẵng gần sáu thập kỷ, đưa Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Phú Cương trở về trọn vẹn với gia đình, quê hương.

Đi qua biết bao bão táp của thời hoa lửa, bà Út ở tuổi 93 giờ đây sống bình yên bên con cháu, đọc sách báo mỗi ngày.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Trần Phú Cương, tên thật là Trần Phú Cuông, do sai sót lúc làm giấy tờ, tên đã bị đổi thành Cương. Ông mang bí danh Năm Mộc, sinh năm 1929, quê quán xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Khi hy sinh, ông là Đội phó Đội L59 (Đội Biệt động số 4, cụm Biệt động 345), Biệt động Sài Gòn - Gia Định.
Theo cuốn sách Biệt Động Sài Gòn của Đại tá Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu), nguyên Chỉ huy trưởng kiêm Tư lệnh phó lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định, ông Năm Mộc là đảng viên, chiến đấu viên gan dạ của đơn vị và đã trải qua hai thời kỳ kháng chiến ở Sài Gòn. Để chuẩn bị cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông xây dựng hầm chứa bên dưới Tiệm may Quốc Anh (số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm), bao gồm 8 khẩu AK, 50 trái lựu đạn, 1 súng colt 12 ly, 50 kg TNT và chuẩn bị 1 xe vận tải nhẹ, đủ chỗ cho 9 người. Trước trận đánh, ông chở đồng đội đến mục tiêu chiến đấu.
Anh hùng liệt sĩ Trần Phú Cương trúng đạn và bị thương nặng khi địch ở tầng 1 Đài Phát thanh bắn chi viện cho tốp lính gác vào khoảng 2h30 rạng sáng mùng 2 Tết. Trời sáng tỏ, vòng vây của giặc siết chặt. Đồng chí Đặng Văn Tẻo lách theo các bức tường, rút về Tiệm may Quốc Anh. Địch phát hiện, bắn theo dữ dội.











