Nguy cơ 'đại học hóa' đào tạo nghề

Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), cho phép các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) tham gia đào tạo giáo dục nghề nghiệp (GDNN) khiến nhiều người băn khoăn rằng liệu đây là lợi thế cạnh tranh để nâng chất lượng đào tạo nghề, hay sẽ tạo ra sự chồng chéo, cạnh tranh không công bằng với hệ thống cao đẳng, trung cấp nghề vốn đã nhiều áp lực?

 Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Đào tạo nguồn nhân lực "kép"

Từ lâu, GDĐH được định vị là nơi đào tạo nhân lực trình độ cao, thiên về tư duy hàn lâm, nghiên cứu khoa học và sáng tạo tri thức. Trong khi đó, GDNN hướng tới rèn luyện kỹ năng thực hành, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của thị trường lao động. Tuy nhiên, doanh nghiệp ngày nay không chỉ cần nhân lực "biết nhiều" mà cần người "làm được việc" ngay khi ra trường. Ngược lại, người lao động nghề cũng cần nền tảng kiến thức để thích ứng với công nghệ thay đổi. Trong xu hướng đó, việc đại học mở rộng tham gia đào tạo nghề được xem là xu hướng tất yếu, TS Lê Viết Khuyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, cho biết: Thực tế, nhiều chương trình theo hướng ứng dụng, thực hành, thậm chí cấp bằng, chứng chỉ nghề đã xuất hiện trong lòng các trường đại học. Mục tiêu là tạo ra nguồn nhân lực "kép" vừa có trình độ, vừa có tay nghề, phục vụ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.

Theo TS Lê Viết Khuyến, so với các cơ sở cao đẳng, trung cấp nghề, đào tạo nghề trong đại học có những lợi thế. Trước hết là uy tín và thương hiệu khi đại học từ lâu được xã hội nhìn nhận như "đỉnh cao" của hệ thống giáo dục. Tâm lý chuộng bằng cấp vẫn phổ biến, khiến không ít học sinh, phụ huynh ưu tiên chọn đại học, ngay cả khi mục tiêu thực chất là học nghề. Khi đại học tham gia đào tạo nghề, sức hút tuyển sinh vì thế cũng lớn hơn. Thứ hai là đội ngũ giảng viên có trình độ học thuật cao khi phần lớn giảng viên đại học được đào tạo bài bản, có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, có khả năng tiếp cận công nghệ mới và tham gia nghiên cứu khoa học. Nếu được bồi dưỡng thêm kỹ năng thực hành và gắn với thực tiễn sản xuất, họ có thể mang lại giá trị gia tăng cho đào tạo nghề, giúp người học không chỉ "làm được" mà còn "hiểu sâu" bản chất công việc.

TS Lê Viết Khuyến

TS Lê Viết Khuyến

Yếu tố thứ ba là hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu có sự đổi mới sáng tạo. Các trường đại học có lợi thế về phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, hợp tác quốc tế và liên kết doanh nghiệp trong các dự án khoa học - công nghệ. Điều này giúp đào tạo nghề trong đại học dễ tiếp cận công nghệ mới, mô hình sản xuất hiện đại, nhất là ở các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo. Thứ tư là khả năng liên thông và phát triển nghề nghiệp dài hạn. Người học nghề trong đại học có cơ hội học tiếp lên các bậc cao hơn, chuyển đổi giữa các chương trình ứng dụng và hàn lâm, mở rộng con đường sự nghiệp. Đây là điểm hấp dẫn so với đào tạo nghề truyền thống, vốn thường bị nhìn nhận là "đường một chiều", ông Khuyến phân tích.

Nguy cơ "một việc nhiều người làm"

Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam cho rằng, bất cứ vấn đề gì đều có hai mặt và thực tế cơ sở GDĐH tham gia đào tạo GDNN cũng tiềm ẩn những nỗi lo về sự chồng chéo và cạnh tranh không công bằng. Đây là điều không thể xem nhẹ, đặc biệt là sự trùng lặp ngành nghề và chương trình. Không ít trường đại học mở các chương trình có nội dung tương tự cao đẳng, trung cấp nghề, từ công nghệ ô tô, điện, điện tử, cơ khí đến du lịch, nhà hàng, khách sạn. Nếu không phân tầng rõ ràng về mục tiêu và chuẩn đầu ra, rất dễ dẫn tới tình trạng "một việc nhiều người làm", gây lãng phí nguồn lực xã hội. Hai là, lợi thế về thương hiệu và nguồn lực của đại học có thể khiến các trường nghề độc lập thêm khó khăn trong tuyển sinh. Khi học sinh đổ dồn vào đại học dù chỉ để học nghề, các trường cao đẳng, trung cấp sẽ có nguy cơ bị "teo" lại, trong khi đây mới là lực lượng nòng cốt của hệ thống GDNN.

Việc cho phép đại học tham gia đào tạo GDNN cũng cảnh báo nguy cơ các trường “mở để hút tuyển sinh”, biến đây thành công cụ cứu chỉ tiêu tuyển sinh. Nếu không có sự điều tiết, thương hiệu đại học sẽ hút người học dồn về “cao đẳng trong đại học”, khiến nhiều trường cao đẳng độc lập khó tuyển và hệ thống GDNN bị nhỏ lại. Thách thức lớn nhất là lệch chuẩn đầu ra và lệch triết lý đào tạo cao đẳng đúng nghĩa phải nặng thực hành, trong khi giảng viên đại học có thói quen dạy thiên về lý thuyết, dễ biến cao đẳng thành “phiên bản đại học rút gọn”.

TS. Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD-ĐT

Tiếp đó, cơ chế chính sách và tài chính có thể tạo ra sự bất bình đẳng khi đại học thường được hưởng ưu đãi về đất đai, đầu tư, dự án nghiên cứu, trong khi nhiều trường nghề khó tiếp cận nguồn lực tương tự. Nếu cùng đào tạo một loại hình nghề mà điều kiện không tương xứng, nguy cơ cạnh tranh không công bằng là hiện hữu. "Cuối cùng là nguy cơ 'đại học hóa' đào tạo nghề. Khi đặt nặng bằng cấp và cách tiếp cận hàn lâm, đào tạo nghề trong đại học có thể xa rời mục tiêu cốt lõi là rèn luyện kỹ năng thực hành, làm phai nhạt bản sắc của GDNN. Như vậy, vấn đề không chỉ là có hay không việc đại học tham gia đào tạo nghề mà là tham gia như thế nào để bổ trợ, chứ không triệt tiêu hệ thống hiện có", ông Khuyến nhấn mạnh.

Liên quan vấn đề này, hiệu trưởng một trường cao đẳng nêu câu hỏi: Chất lượng đào tạo nghề trong đại học sẽ được đảm bảo ra sao, khi đội ngũ, cơ sở vật chất và chuẩn đánh giá vốn được thiết kế cho đào tạo hàn lâm? Thực tế cho thấy, nhiều giảng viên đại học mạnh về lý thuyết, nghiên cứu nhưng thiếu trải nghiệm sản xuất. "Theo quy định, chương trình cao đẳng có 50 - 70% thời lượng cho thực hành. Luật GDNN 2014 cũng yêu cầu đội ngũ nhà giáo phải thường xuyên thực tập tại doanh nghiệp để cập nhật công nghệ. Vậy nên, các trường đại học khi được tham gia đào tạo GDNN có đáp ứng đầy đủ các điều kiện thực hành, thực tập hay vẫn giữ cách tiếp cận nặng về hàn lâm?", vị lãnh đạo đặt câu hỏi.

Về cơ sở vật chất, hiện nay phần lớn phòng thí nghiệm trong đại học phục vụ mục tiêu học tập và nghiên cứu, không hoàn toàn tương thích với dây chuyền sản xuất thực tế. Trong khi đó, đào tạo nghề chất lượng cao đòi hỏi thiết bị sát công nghệ doanh nghiệp, chi phí đầu tư lớn và cần cập nhật liên tục. Nếu chỉ "dùng chung" hạ tầng sẵn có, nguy cơ đào tạo xa rời thực tiễn là rất rõ. Nếu áp dụng chuẩn hàn lâm cho đào tạo nghề, kết quả sẽ khó phản ánh đúng tay nghề người học.

Nhiều chuyên gia cho rằng, mở rộng quyền đào tạo phải đi kèm điều kiện nghiêm ngặt và cơ chế giám sát chặt chẽ, bám nhu cầu địa phương và doanh nghiệp; chương trình phải thiết kế theo khung trình độ quốc gia; đội ngũ giảng dạy phải thạo nghề; cơ sở vật chất phải bảo đảm thực hành và đặc biệt là tách bạch chuẩn kiểm định cao đẳng trong trường đại học. Doanh nghiệp phải tham gia thực chất từ thiết kế chương trình, tổ chức thực tập đến đánh giá năng lực, coi đây là điều kiện bắt buộc chứ không phải phong trào ký kết hình thức.

Nguyễn Hải Phong

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/nguy-co-dai-hoc-hoa-dao-tao-nghe-238260106150725003.htm