Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước - mở ra thời đại Hồ Chí Minh - Bài 1

Từ Bến Nhà Rồng, Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước lên con tàu Amiral Latouche-Tréville bắt đầu hành trình 30 năm đi khắp năm châu tìm đường cứu nước. Quyết định của tuổi 21 ấy không chỉ mở ra một cuộc đời cách mạng vĩ đại mà còn mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh - độc lập dân tộc gắn với xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026), Báo và Phát thanh, truyền hình Cao Bằng thực hiện loạt bài nhìn lại hành trình từ Bến Nhà Rồng đến Pác Bó, từ khát vọng của một thanh niên trẻ yêu nước đã mở ra con đường phát triển của cả dân tộc.

Bài 1: Từ Bến cảng Nhà Rồng một người trẻ ra đi, cả dân tộc tìm thấy con đường

Buổi sáng hè đầu tháng 6/2026, Bến Nhà Rồng, giữa Thành phố Hồ Chí Minh sôi động, hiện đại, đông đảo thanh niên đến đây, thầm lặng nhớ lời thơ “Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi/Cho tôi làm con sóng dưới thân tàu đưa tiễn Bác” (Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên) để nhớ ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, mở đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm con đường giải phóng dân tộc. Không cờ hoa, không người thân đưa tiễn, chỉ có một ý chí lớn hơn nỗi sợ và khát vọng cháy bỏng: Tự do cho đồng bào tôi. Độc lập cho Tổ quốc tôi. Đó là những gì tôi hiểu. Đó là những gì tôi muốn. Từ chuyến đi lịch sử ấy, không chỉ thay đổi số phận một con người, mà còn làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc.

Một quyết định “ngược dòng” tại Bến Nhà Rồng lịch sử

Từ Bến Nhà Rồng, con tàu Amiral Latouche-Tréville đưa người thanh niên 21 tuổi bước vào thế giới rộng lớn và đầy khắc nghiệt. Đó là khoảnh khắc lặng lẽ nhưng mang ý nghĩa lịch sử to lớn “Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ/Sóng dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”… (Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên) những câu thơ sau này như thay lời hậu thế nói hộ nỗi trăn trở của một người trẻ mang theo cả Tổ quốc trong tim. Bởi đây không phải chuyến đi du học, hay hành trình tìm kiếm danh lợi cá nhân. Đó là một quyết định “ngược dòng” trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, khi nhiều con đường cứu nước cũ của các nhà nho yêu nước đã bộc lộ sự bế tắc.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước Việt Nam chìm trong ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Độc lập dân tộc bị tước đoạt, quyền sống và nhân phẩm của nhân dân bị chà đạp. Các phong trào yêu nước liên tiếp bùng nổ, từ Cần Vương đến Đông Du, Duy Tân... lần lượt thất bại do thiếu một đường lối đúng đắn. Lịch sử đặt ra một câu hỏi mang tính sống còn và cấp bách: Dân tộc Việt Nam phải đi con đường nào để giành lại độc lập, tự do?

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19/5/1890, tại làng Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An) trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, nhà nho có tư tưởng tiến bộ, thương dân, ghét cường quyền. Lớn lên từ chính nỗi đau nước mất, người dân bị áp bức, khổ cực. Nguyễn Tất Thành hiểu rằng: muốn cứu nước không thể chỉ dựa vào lòng yêu nước tự phát hay những con đường cải lương, cầu viện. Phải đi ra thế giới, phải tận mắt nhìn thấy “Tự do, bình đẳng, bác ái” ở nước Pháp thực hư thế nào? Đời sống nhân dân các nước cho là văn minh ra sao? Phải tìm cho bằng được một con đường đấu tranh đúng đắn, khoa học cho dân tộc mình.

Đi để học từ đời sống người dân bị áp bức và lên án

Ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành không tìm đến những giảng đường danh giá, mà học từ chính cuộc sống lao động cực khổ. Người đi sang châu Phi, châu Mỹ đến châu Âu… và làm đủ nghề: phụ bếp, quét tuyết, lao động thuê mướn… để sống và quan sát xã hội tư bản từ bên trong. Mỗi bến cảng, mỗi xưởng máy, mỗi khu lao động nghèo đều trở thành một “lớp học” sống động.

Chính trong đời sống lao động cực nhọc ấy, Người tận mắt chứng kiến sự bóc lột tàn khốc của chủ nghĩa thực dân và tư bản đối với người lao động và các dân tộc thuộc địa. Người sớm nhận ra: nỗi đau của nhân dân Việt Nam không phải là cá biệt, mà là nỗi đau chung của hàng triệu con người bị áp bức khổ đau bởi chủ nghĩa đế quốc tư bản trên toàn thế giới.

Năm 1919, tại Paris, Người lấy lên là Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị Versailles “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho dân tộc Việt Nam. Dù không được chấp nhận, bản yêu sách đã gây tiếng vang lớn, đánh dấu lần đầu tiên tiếng nói chính trị độc lập của dân tộc Việt Nam xuất hiện công khai trên trường quốc tế.

Từ thực tiễn đấu tranh ấy, Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng: con đường giải phóng dân tộc không thể trông chờ vào sự ban phát, mà phải dựa vào sức mạnh của chính nhân dân và sự liên kết với phong trào cách mạng thế giới. Với cách nói của Gen Z hôm nay, Người là một “du học sinh toàn cầu” học bằng trải nghiệm sống, bằng thực tiễn đấu tranh, bằng tư duy chính trị sắc sảo, chứ không phải bằng những tấm bằng treo tường.

Bến Nhà Rồng, nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Bến Nhà Rồng, nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Tìm thấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và con đường đấu tranh khoa học

Bước ngoặt mang tính quyết định trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đến vào tháng 7/1920, qua báo L’Humanité (Nhân đạo), Người được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin. Lần đầu tiên, một học thuyết khoa học chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Ánh sáng của Luận cương đã làm thay đổi căn bản nhận thức của Nguyễn Ái Quốc. Sau này, Người xúc động kể lại: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!… Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.

Tháng 12/1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước Người trở thành một chiến sĩ cộng sản, gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Đây là sự lựa chọn mang tính khoa học, chân chính và có ý nghĩa quyết định, chấm dứt quá trình tìm kiếm đầy trăn trở, mở ra con đường đấu tranh đúng đắn cho cách mạng Việt Nam - con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Từ thực tiễn ấy, Nguyễn Ái Quốc sớm vạch trần bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Tại Paris, thủ đô nước Pháp, Hội Liên hiệp thuộc địa xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ) (1/4/1922 - 4/1926), là cơ quan ngôn luận, là diễn đàn của nhân dân các thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc là chủ nhiệm, kiêm chủ bút, Người đã viết nhiều bài báo vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương và các thuộc địa khác. Từ đó, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân nói chung và thực dân Pháp nói riêng; về mâu thuẫn không thể điều hòa giữa chủ nghĩa thực dân với nhân dân lao động tại các thuộc địa; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và chính quốc… Từ bước ngoặt lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận mang tính thời đại: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức, mở ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

“Hộ chiếu đỏ” và ngọn lửa không tắt giữa mùa băng giá

Con đường người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã chọn không hề bằng phẳng. Người sống trong cảnh bị truy nã, tù đày, đói rét và hiểm nguy. Nhưng chính trong những ngày tháng khắc nghiệt ấy, lý tưởng cách mạng của Người không hề lay chuyển. Hình ảnh “Một viên gạch hồng/Người chống lại cả mùa băng giá” (Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên) trở thành biểu tượng cho ý chí không khuất phục cho thế hệ trẻ hôm nay.

Tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng các nhà cách mạng thuộc địa sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ) vạch trần bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Từ năm 1923 - 1924, hoạt động tại Liên Xô, trung tâm của phong trào cộng sản quốc tế, Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Nông dân và nhiều hội nghị quan trọng khác, tiếp thu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam.

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho phong trào trong nước. Năm 1927, Người viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” trở thành văn kiện lý luận cách mạng đầu tiên của Việt Nam, đặt nền móng cho tư tưởng về xây dựng Đảng và con đường cách mạng đúng đắn.

Đỉnh cao của quá trình chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức là Người đã triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu tháng 2/1930 tại Hương Cảng, Hồng Kông, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước, mở ra con đường mới về đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Từ đây Nguyễn Ái Quốc mang “Hộ chiếu đỏ” - lý tưởng cách mạng đã đưa Người trở về Tổ quốc năm 1941, mang theo tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học đúng đắn Mác - Lê- nin, phong trào quốc tế vô sản mở con đường giải phóng dân tộc cho Việt Nam.

Bài 2: Trở về Tổ quốc mở ra thời đại Hồ Chí Minh

Trường Hà

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/nguyen-tat-thanh-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc-mo-ra-thoi-dai-ho-chi-minh-bai-1-3188856.html