Nhà báo Thu Uyên: 'Báo chí ở trạng thái đẹp đẽ nhất phải là lực lượng cứu người'

Trong dòng chảy của báo chí đương đại, không nhiều mô hình báo chí tạo được sức sống bền bỉ và tác động xã hội sâu rộng như Như chưa hề có cuộc chia ly.

Trong dòng chảy của báo chí đương đại, không nhiều mô hình báo chí tạo được sức sống bền bỉ và tác động xã hội sâu rộng như Như chưa hề có cuộc chia ly. Gần hai thập kỷ qua, nhà báo Thu Uyên kiên trì theo đuổi những cuộc tìm kiếm người thân thất lạc và những số phận bị chia cắt bởi chiến tranh, nghèo khó hay những biến động của lịch sử. Từ một ý tưởng báo chí, chị cùng đồng nghiệp đã xây dựng nên một hoạt động xã hội bền bỉ, nơi báo chí không dừng lại ở việc phản ánh hiện thực mà trực tiếp góp phần hàn gắn những đứt gãy của cuộc đời. Trong cuộc trò chuyện với Báo Nhân Dân, nhà báo Thu Uyên chia sẻ những suy ngẫm về nghề báo, về những dấu vết chiến tranh còn hiện hữu trong đời sống người Việt và về trách nhiệm xã hội của người làm báo trước con người và cộng đồng.

"Làm báo, với tôi, thuần túy là say mê và phụng sự"

Phóng viên: Nhìn lại những năm tháng làm báo, chị có nghĩ rằng nghề báo chỉ là một nghề nghiệp, hay thật ra đó là một lựa chọn đã định hình cả cách chị nhìn con người, nhìn nỗi đau và nhìn trách nhiệm của bản thân trước cuộc đời?

Nhà báo Thu Uyên: Tôi nhớ có một lần, cách đây hình như 4 - 5 năm, tôi tình cờ đọc được một comment dưới podcast Have A Sip mà Thùy Minh trò chuyện với tôi, “Sứ mệnh người kết nối”. Lời bình luận ấy là: “Thì cũng chỉ là một nghề kiếm cơm thôi mà”. Tôi sững cả người đấy, tự hỏi chẳng lẽ bạn ấy chưa từng gặp một ai xung quanh mà “yêu nghề” hay sao, hoàn cảnh nào khiến bạn ấy trở nên bi quan về những lao động trong cuộc đời này vậy. Đối với tôi, nghề báo là một lý tưởng tôi may mắn được tiếp cận và theo đuổi từ đó. Cần kiếm thêm tiền, tôi đi dạy và dịch tài liệu chuyên môn. Tôi trân trọng giữ cho việc làm báo với tôi thuần túy là trong lành, say mê và phụng sự, như không ít nhà báo đã làm. Và tôi tin là những ai nói “yêu nghề” ở bất cứ nghề nào cũng có cảm giác tách bạch khi nói về nghề nghiệp như tôi thôi, mặc dù nghề nghiệp có thể làm thiếu hay đủ sống hay dư thừa.

Nhà báo Thu Uyên, đại diện dự án Như chưa hề có cuộc chia ly nhận giải Dự án truyền cảm hứng, Giải thưởng Hành động vì Cộng đồng - Human Act Prize 2024.

Nhà báo Thu Uyên, đại diện dự án Như chưa hề có cuộc chia ly nhận giải Dự án truyền cảm hứng, Giải thưởng Hành động vì Cộng đồng - Human Act Prize 2024.

Tuy thế, thì ban đầu, nghề báo hoàn toàn không nằm trong sự lựa chọn của tôi. Suốt thời học sinh và sinh viên, tôi không nghĩ đến báo chí, cho đến khi bước vào Đài Truyền hình Việt Nam trong tư thế một sinh viên mới tốt nghiệp đại học còn ngơ ngác, nhưng được cái ham học. Nghề báo là thầy dạy thật tuyệt vời. Nghề báo thuộc số không nhiều những nghề mà điều kiện thiết yếu của nó là tiếp xúc với cá nhân, với chính kiến của họ, hoặc với chính cuộc đời của họ, trong những bối cảnh mà họ đã sống.

Nói rằng nghề báo đã định hình nên con người tôi, cũng đúng. Nhờ được tiếp cận với những con người cụ thể, tôi tin là tôi đã thấm dần cách nhìn nhận nhân văn về nhiều chuyện, dần hiểu được những nỗi đau của con người một cách khách quan, học được nhiều về sự công bằng. Rồi cũng chính nghề báo giúp tôi xây dựng từ lòng trắc ẩn đó thành những việc nhỏ có ích cho nhiều người.

Nghề báo theo cách nhìn nhận của tôi, không phải là một nghề dễ “trở thành”, mà phải học nhiều lắm song song với sống. Tôi nhớ mình làm báo đến hai mươi mấy năm mới hết thấy thẹn, mà thấy mình cũng tạm xứng đáng khi được mọi người gọi là Nhà báo.

Nhà báo Thu Uyên, đại diện dự án Như chưa hề có cuộc chia ly chia sẻ tại Lễ trao giải.

Nhà báo Thu Uyên, đại diện dự án Như chưa hề có cuộc chia ly chia sẻ tại Lễ trao giải.

- Hai mươi năm theo đuổi những hồ sơ thất lạc, chứng kiến biết bao cuộc đoàn tụ và cả những cuộc tìm kiếm không có kết quả, điều gì đã giữ chị ở lại với công việc này lâu đến vậy, trong khi chị hoàn toàn có thể lựa chọn những con đường nghề nghiệp nhẹ nhàng hơn?

Bởi vì có người vẫn cần đến chúng tôi. Ly tán vẫn còn đó. Dù đã 51 năm sống trong hòa bình, nếu tạm trừ ra hai cuộc chiến tranh biên giới mặc dù chúng cũng gây chia phôi không ít gia đình Việt Nam, thì ngay tháng 6 này chúng tôi vẫn đang khẩn trương tổ chức liên tiếp 6 cuộc đoàn tụ cho những người đã bị chia ly trong chiến tranh, tức là 51, 60, 70 năm trước. Đa dạng lắm. Hai cuộc cha mẹ rớt tay con trong ngày chạy loạn cuối cùng của chiến tranh; cho đến một người phụ nữ Pháp tìm về quê mẹ, nơi cha bà đã từng là lính lê dương trong quân đội Pháp. Những trường hợp khó đó, người trong cuộc đã nhiều tuổi lại sống một cuộc đời chông chênh do ly tán, khó khăn tiếp cận thông tin, hầu như không thể tìm ra và kết nối chỉ bằng mạng xã hội.

Như chưa hề có cuộc chia ly đã bền bỉ tập trung vào những trường hợp khó bằng nhiều phương pháp để giúp được những người yếu thế hơn cả. Chưa kể, hậu chiến với biết bao vấn đề, di cư, mưu sinh, gia đình tan vỡ… Chúng tôi không tiếc sức cho những người hoàn toàn không có tiếng nói, như người vô gia cư, người khuyết tật, tâm thần được nuôi dưỡng trong các trung tâm bảo trợ xã hội, người bị bán qua biên giới…

Chúng tôi thấy rất nhẹ lòng vì hiện tại, nhiều gia đình đã tìm kiếm nhau dễ dàng qua những kênh kết nối rất hiệu quả nhờ sự bùng nổ của mạng xã hội trong 3-4 năm gần đây. Chừng nào còn sức, chúng tôi vẫn tập trung vào những trường hợp khó, nhiều năm rồi tìm chưa ra, nhờ tìm nhiều cách không ra. Và vẫn kiên trì tôn chỉ từ ban đầu: Hoàn toàn miễn phí và không hậu tạ.

Như chưa hề có cuộc chia ly đã bền bỉ tập trung vào những trường hợp khó bằng nhiều phương pháp để giúp được những người yếu thế hơn cả. Chưa kể, hậu chiến với biết bao vấn đề, di cư, mưu sinh, gia đình tan vỡ…

Tuy vậy thì sức người là rất hữu hạn. Chỉ khi kiệt sức thì tôi mới dừng lại. Nghề nghiệp nhẹ nhàng bay bổng hơn ư? Thôi lỡ theo nghiệp báo đến nay là gần bốn chục năm rồi. Hẹn kiếp sau sẽ chọn nghề say mê mà đỡ vất vả như nghề báo vậy, nếu có! (cười)

Số phận con người là đề tài bất tận

- Đi qua hàng nghìn cuộc đời bị chia cắt bởi chiến tranh, nghèo khó, biến động xã hội hay những sai lầm của số phận, điều gì về con người Việt Nam khiến chị suy ngẫm nhiều nhất?

Có rất nhiều góc nhìn khác nhau, riêng tôi từ công việc của mình, tôi cho rằng người Việt Nam có dấu vết chiến tranh trong ADN, dù gene ấy rồi có thể lặn dần. Nỗi đau thương mất mát, những thử thách vượt quá sự chịu đựng, tạo nên sự dẻo dai khác thường, khi cần trở thành sức bật lớn.

Người Việt Nam như tôi được gặp, âm thầm chịu thiệt thòi một cách rất tinh vi từ những cuộc chiến đã qua. Tuần rồi, chúng tôi đến gặp một chị từng là đứa trẻ lạc trên bãi biển Kỳ Hà, Chu Lai (nay thuộc Đà Nẵng) vào đêm 26/3/1975. Những ai đọc sử về những ngày cuối của chiến tranh, đặc biệt là hơn chục nghìn người đã sống sót trong cuộc chạy loạn từ Chu Lai hẳn lập tức nhận ra dấu mốc này - cái đêm có lẽ là kinh hoàng nhất trong chiến tranh Việt Nam. Không có chiến sự, chỉ là chen lấn chà đạp và binh lính phẫn uất chọi lựu đạn và nã súng vào nhau, cùng tai nạn khi chiếc tàu há mồm cập bến. Chỉ trong vòng khoảng 4 tiếng đến nửa đêm, hơn 600 người đã chết, cả trăm đứa trẻ lạc. Cô bé lên 8 ngất đi lúc đêm vì bị giẫm đạp, tỉnh dậy lúc 7-8 giờ sáng hôm sau giữa một bãi cát có rất nhiều chân tay người lộ ra.

Chị trở thành tiểu thương nho nhỏ hiền lành. Người ta gặp chị ngoài chợ không ai có thể biết chị đã từng ở giữa nỗi kinh hoàng như thế. Các con gái của chị rất xinh đẹp như người mẫu, kinh doanh online trên thành phố, cũng biết tên Chu Lai do mẹ kể lại, cũng tìm hiểu trên mạng để biết lần mẹ lạc đó nó kinh hãi lắm. Các con cho rằng mẹ tự ti nhút nhát là do đó mà ra. Hỏi chị rằng người chồng có được chị chia sẻ những ký ức ấy không để đi tìm gia đình cùng chị, mới biết, anh cũng có những ký ức giữ kín của riêng mình.

Anh chia sẻ: Anh là con liệt sĩ, quê ở doi đất Trung Sơn, Quảng Trị, ngay bờ sông Bến Hải. Ba anh hy sinh vì bom Mỹ trên đường đưa trẻ em sơ tán qua sông về miền bắc trong diện K10. Một người cậu của anh cũng thất lạc ngay giữa dòng sông trong cuộc sơ tán đau thương đó, mà Như chưa hề có cuộc chia ly đã dày công tìm kiếm thông tin nhiều năm vẫn chưa ra. Hòa bình rồi, anh nhập ngũ, sang chiến trường Campuchia mấy năm, trướckhi về vùng kinh tế mới gặp chị, lập gia đình. Ký ức ẩn sâu trong họ khiến họ không chia sẻ được với nhau. Anh mực thước với bên ngoài nhưng về nhà dễ bùng nổ. Các con gái nói ngại ba lắm, dù biết ba thương vợ con. Mỗi lần vợ sinh con anh lại cầu nguyện cho con không bị dị tật gì, rồi mỗi lần con gái sinh cháu, anh lại cầu nguyện y như thế.

Nơi vùng vốn là đất kinh tế mới của đồng bào Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, mỗi căn nhà nay đều ấm no, không một ai còn nhắc đến chiến tranh. Nhưng khi đã phải nhắc đến, bao nhiêu hệ lụy từ nó lại hiện ra, sâu sắc. Ly tán, khép lòng, cảm giác sống sót, chút thiệt thòi. Rất li ti, khó thấy, nhưng hiển hiện.

Tôi thường nói với các em trong đội ngũ của mình rằng, khi chưa hiểu nhân vật, thì hãy nhẹ nhàng đào thêm chút nữa trong quá khứ của họ, ở đâu đó về phía ấy sẽ gặp được nguyên nhân. Với đa số người Việt Nam chúng ta nay, đào một lúc là về đến thời chiến tranh. Cũng từ góc nhìn này, tôi tự giải thích nhiều hiện tượng không mấy lạc quan đang diễn ra chung quanh để hiểu vì sao chúng ta giỏi chịu đựng nhưng dễ bốc đồng nổi nóng, vì sao nhiều việc nhỏ bị xé to, việc to thì bỏ quên thành nhỏ, vô cùng thương yêu mà cũng vô cùng dễ quay đi, v.v. Nhìn như vậy là phiến diện, nhưng vẫn là một góc nhìn không thể phủ nhận.

- Rất ít tác phẩm báo chí có thể tồn tại gần hai thập kỷ và càng hiếm hơn khi trở thành nơi người dân gửi gắm hy vọng, ký ức và niềm tin. Theo chị, điều gì đã giúp Như chưa hề có cuộc chia ly vượt qua khuôn khổ của một chương trình truyền hình để trở thành một giá trị xã hội bền vững?

Tôi luôn vinh dự rằng sản phẩm lao động của chúng tôi luôn được coi là tác phẩm báo chí không chút nghi hoặc nào. Những chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly và người anh em sinh đôi của nó - Trở về từ ký ức (tìm kiếm thông tin về những người hy sinh và thiệt mạng trong chiến tranh) đều xứng đáng với các giải vàng và giải đặc biệt của ngành truyền hình, nhưng chúng cũng không có gì hơn so với nhiều tác phẩm báo chí có giá trị thực tiễn khác. Chẳng qua là chúng tôi may mắn có cơ hội với đề tài bất tận và sinh động, đó chính là số phận con người.

Nếu chỉ nhìn thấy các cuộc đoàn tụ, thì chúng tôi vẫn đang dẫn đầu về tốc độ tìm kiếm, 8 đến 12 có khi 17 cuộc tìm ra hàng tháng; nhưng ở phần báo chí, chúng tôi kể lại những câu chuyện ly tán, đoàn viên không đơn lẻ, mà có tính đại diện hoặc đặc trưng cho nhiều trường hợp, bối cảnh. Chúng tôi làm báo ở phần công việc kể chuyện này, và chính cuộc đời, số phận, văn hóa, lịch sử, cuộc sống tinh thần của xã hội và nhất là tình người đã cho chúng tôi ngồn ngộn dữ liệu để kể.

Ngay từ đầu, Như chưa hề có cuộc chia ly đã được thiết kế không phải là một chương trình truyền hình đơn thuần. Ý tưởng xuất phát từ sự chưa thỏa lòng của cá nhân tôi trước việc ngồi bình luận hay tường thuật, đọc bản tin thời sự, tôi ao ước và tin rằng phải có cách làm để đáp ứng nhu cầu của nhiều người trong xã hội, một cách trực tiếp hơn, theo sát hơn và nhìn thấy được. May mắn là rồi Như chưa hề có cuộc chia ly đã trở thành một hoạt động xã hội vững vàng, có quy trình khoa học, có phong cách báo chí riêng, và được đồng bào tin cậy.

Nhà báo Thu Uyên (thứ ba, phải sang) tại một chương trình truyền hình trực tiếp Như chưa hề có cuộc chia ly.

Nhà báo Thu Uyên (thứ ba, phải sang) tại một chương trình truyền hình trực tiếp Như chưa hề có cuộc chia ly.

Không chỉ thế, Như chưa hề có cuộc chia ly còn mở ra hướng đi mới, là trở thành một hoạt động xã hội do đông đảo cá nhân trong cộng đồng chung tay nuôi dưỡng, mà không phải đi tìm một nhà tài trợ độc quyền nào cả. Ngay lúc này, mô hình “Ổ bánh mì làm nên đoàn tụ”, (tức là mỗi người mỗi tháng tham gia một khoản nhỏ 20 nghìn đồng, để cùng làm nên 8-12 cuộc tìm ra một tháng) chưa hoàn toàn thành công, nhưng nó mở ra một tương lai tập hợp sức mạnh cộng đồng cùng làm việc thiện cho nhiều hoạt động xã hội cụ thể khác.

Phẩm chất cao nhất của người làm báo là trung thực với chính mình

- Người ta thường nhớ đến những giọt nước mắt hạnh phúc khi đoàn tụ. Nhưng phía sau đó là những câu chuyện đau đớn, những mất mát không thể bù đắp và những cuộc kiếm tìm kéo dài hàng chục năm. Chị đã học cách sống cùng những cảm xúc ấy như thế nào để không bị chúng làm kiệt sức?

Nếu câu chuyện chỉ có chia ly rồi gặp lại, thì cũng chẳng có gì nhiều để nói, và chắc là chúng tôi sẽ không chịu đựng nổi qua hết lần này đến lần khác như thế đâu. Nếu chỉ thế thì cũng chẳng có gì hay gửi tới khán giả được. Nhưng may là, trên tất cả những đau thương mất mát, là tình người. Tình người chợt sáng lên đẹp nhất là vào những phút bĩ cực. Tình người cao quý không phải là cái có thể định trước. Đấy, chúng tôi may mắn được có cơ hội dò tìm lại những điều nhân nghĩa thần kỳ ấy trong quá trình cùng tái hiện cuộc đời của các nhân vật của mình. Chính những điều kỳ diệu này làm chúng tôi chịu được vất vả, căng thẳng mà say mê làm tiếp công việc của mình.

Những khoảnh khắc nghẹn lời...

Những khoảnh khắc nghẹn lời...

- Trong bối cảnh ngày nay khi báo chí chịu áp lực của lượt xem, của sự chú ý tức thời và nhịp sống ngày càng nhanh, hành trình của Như chưa hề có cuộc chia ly dường như được xây dựng trên những giá trị ngược lại: Sự kiên nhẫn, lòng tin và sự tử tế. Theo chị, đâu là những giá trị cốt lõi mà nghề báo hôm nay cần giữ bằng được?

Ôi, chúng tôi cũng muốn tăng view chứ ạ! Đã mang hết tâm huyết ra để kể cho khán giả nghe câu chuyện nhân nghĩa ở đời, thì tiếp cận thêm một người là hiệu quả lao động tăng thêm một chút chứ. Tuy nhiên, sẻ chia thì có đi có lại, mong gặp là gặp người cùng mối quan tâm, mong được có ích với ai đang cần. Như chưa hề có cuộc chia ly tự xác định rằng mình không hot ngay lập tức với số đông, nhưng lâu dài vẫn có ích và thêm hấp dẫn. Ồ mà đây cũng có chút ngụy biện đấy! Chính xác là thế này: Giá đội ngũ chúng tôi có đủ người, thì chúng tôi cũng biết nhiều cách để lan tỏa hơn; nhưng vì điều kiện có thế thôi, chưa bao giờ có đủ kinh phí để có đủ nhân sự được cả, nên Như chưa hề có cuộc chia ly cứ chăm chăm một cách làm là “tối ưu”. Nhân tài vật lực tập trung tìm kiếm, đoàn tụ, và kể chuyện bằng hình, những phần khác đành để nếu hữu xạ thì sẽ tự nhiên hương vậy.

Còn về những giá trị cốt lõi của nghề báo, tôi thấy những điều nhà báo Hữu Thọ từng đúc kết trong sáu chữ: “Mắt sáng, lòng trong, bút sắc”, đến nay, khi công nghệ có thể làm thay đổi nhiều phương thức tác nghiệp, tôi vẫn cho rằng những giá trị ấy không hề cũ đi. Ngay cả lúc này, mang từng tiêu chuẩn ra xét, tôi vẫn thấy chúng cần được nguyên vẹn như lời của ông. Đồng thời, ngay vào lúc này, phẩm chất cao nhất đối với người làm báo, có lẽ theo tôi là trung thực. Trước hết là trung thực với chính mình, với chính kiến của mình.

- Nếu được nhìn lại hành trình của mình trong dòng chảy hơn một thế kỷ của báo chí chị mong điều gì sẽ còn được nhớ tới lâu hơn cả: Những chương trình truyền hình, những cuộc đoàn tụ đã thành hiện thực, hay một niềm tin rằng báo chí, ở trạng thái đẹp nhất của nó, có thể trở thành một lực lượng chữa lành xã hội?

Một đường gạch hầu như không thể nhìn thấy, dài 19 năm, trong hành trình khổng lồ của báo chí Việt Nam, chúng tôi chả mong được nhớ nhiều về mình. Chỉ mong những thông điệp về tình người, những bức tranh nhỏ về lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế đất nước qua nhiều thời kỳ, với nhiều nhân chứng khác nhau và những số phận đa dạng sẽ còn tiếp tục ở lại mãi, khi có người cần tìm hiểu là có mặt ngay.

Muốn chữa lành cho ai khác, bản thân mình phải trong lành trước đã. Báo chí ở trạng thái đẹp đẽ nhất của nó phải là lực lượng cứu người, như lính cứu hỏa và bác sĩ vậy.

- Trân trọng cảm ơn chị về cuộc trò chuyện. Chúc chị và các cộng sự tiếp tục vững bước trên hành trình đặc biệt mà mình đã lựa chọn!

PHAN THANH PHONG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nha-bao-thu-uyen-bao-chi-o-trang-thai-dep-de-nhat-phai-la-luc-luong-cuu-nguoi-post970559.html