Nhà thơ Bằng Việt: Hà Nội - nơi cuối cùng lắng lại, hóa hồn tôi
Giải thưởng Lớn - hạng mục quan trọng nhất của Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội 2026 của báo Thể thao và Văn hoá/TTXVN đã được trao cho nhà thơ Bằng Việt, với những cống hiến bền bỉ và xuất sắc cho sự phát triển văn học, nghệ thuật và văn hóa.
Nhà thơ Bằng Việt luôn coi Hà Nội là "thành phố của đời mình", nơi có một vị trí đặc biệt trong tâm hồn, thi ca và cả cuộc đời ông - "Thành phố của tình yêu tươi mới mãi/ Nơi cuối cùng lắng lại, hóa hồn tôi!.
Hà Nội - nơi cuối cùng lắng lại, hóa hồn tôi!
Sinh năm 1941 ở Huế, quê gốc Xứ Đoài (huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (cũ), nay là xã Tây Phương, Hà Nội), nhưng phần lớn cuộc đời nhà thơ Bằng Việt thuộc về Hà Nội. Ông luôn tự nhận, thẳm sâu trong tâm hồn mình là tình yêu Hà Nội nồng nàn, say đắm và chung thủy. Với ông, thành phố không chỉ hiện diện trong thi ca mà còn trải dài qua nhiều lĩnh vực hoạt động trong suốt cuộc đời và sự nghiệp: sáng tác văn học; nghiên cứu, khảo cứu về văn hóa, lịch sử Thăng Long-Hà Nội; công tác quản lý nhà nước; công tác hội và tổ chức đời sống văn học nghệ thuật.

Nhà báo Vũ Việt Trang, Tổng giám đốc TTXVN trao Giải thưởng Lớn cho nhà thơ Bằng Việt. Ảnh: Hòa Nguyễn
Trong sáng tác, Hà Nội là một miền cảm xúc bền bỉ trong thơ Bằng Việt, với khoảng 30 bài thơ riêng về thành phố mà ông từng dự định tập hợp thành một tập riêng, trong đó nhiều thi phẩm để lại dấu ấn như: Trở lại trái tim mình (1967); Đất này, Thăng Long-Hà Nội (1973); Trò chuyện với Thành phố của đời mình (1974)... Hơn nửa thế kỷ cầm bút trăn trở với sáng tạo thi ca, những bài thơ viết về Hà Nội của Bằng Việt vẫn là những bài thơ kết tinh chất thi vị, đằm thắm, sâu lắng nhất. Ông viết về một Hà Nội đầy hào hoa ngay trong những ngày đạn bom ác liệt:
Bao điều không ai hay
Bỗng thấm thía giữa ngày chống Mỹ
Hà Nội bận dẫu không hề phút nghỉ
Vẫn còn nguyên phong thái hào hoa!
(Trở lại trái tim mình)
Trở lại trái tim mình được viết trong những ngày cả miền Bắc còn chìm ngập trong khói lửa cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ. Ngay sau khi xuất hiện trên thi đàn, tác phẩm đoạt giải Nhất về Văn học nghệ thuật Hà Nội năm 1967. Từ nơi sơ tán, nhà thơ lại về Thủ đô. Bồi hồi, lặng ngắm mỗi góc phố, mỗi con đường từng gắn bao kỷ niệm của đời người, Bằng Việt đã không nén nổi lòng mình. Và ông gọi sự trở về ấy là Trở lại trái tim mình. Hành trình trở về ấy giúp nhà thơ hiểu hơn về Hà Nội, nhận ra bao vẻ đẹp của Hà Nội hôm qua, hôm nay và cả trong ngày mai.
Hà Nội trong thơ Bằng Việt còn được nhìn "bằng ánh mắt xanh ngăn ngắt" của thi sĩ: "Chuông xe điện trong màn sương rạng sớm/ Và nắng nhô trên hàng cây rét muộn/ (…)/ Những con đường dạ hương làm tim đập không yên/ Tôi đi một mình dưới chiều xanh bối rối/ Thành phố thầm thì trong tình yêu vừa nhen" (Một chút thầm thì trong tình yêu Hà Nội).
"Tôi có những ước mơ trong thành phố cũ/ Như những ngôi sao tự tuổi chín mười…/ Sau hai mươi năm/ Chúng vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngăn ngắt" (Trò chuyện với thành phố của đời mình).
"Năm anh gặp em, những cơn bão liên miên đang đổ vào Hà Nội/ Bến xe mưa bay, em đứng đợi một mình…" (Năm anh gặp em).
Cái nhìn về Hà Nội của Bằng Việt luôn xuất phát từ những điểm trải nghiệm kín đáo được khởi phát từ nội tâm, gắn với những rung động riêng tư, sâu lắng từ đầu đời, của tình yêu và cả những cảm nhận của bản thân. Phả vào những rung động đó còn là khát khao, ước vọng của tuổi trẻ khi nghĩ về thành phố của đời mình. Minh chứng rõ nhất cho đặc điểm này có thể thấy qua những câu thơ như:
"Sông Hồng nước lên. Em đưa anh qua
Tháng Tám - Cầu nhô hai nhịp gãy
Sông Hồng nước lui - khi anh trở lại
Ta nắm tay nhau trên nhịp đã liền.
Hai bên bờ Long Biên
Nghìn lá sắc trổ cờ trên ngọn mía
Hạnh phúc lớn, tự hào, đơn giản thế,
Ngày xưa - anh chưa nghĩ ra...".
(Tình yêu và báo động)

Lễ trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội lần 19 năm 2026. Trong ảnh: Nhà báo Nguyễn Thiện Thuật (giữa) - Tổng biên tập báo Thể thao và Văn hoá, Trưởng BTC Giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 19 - 2026 và chị Bùi Cẩm Vi (bìa phải) trao chứng nhận cho các đề cử. Ảnh: Hòa Nguyễn
Phông văn hóa và những trải nghiệm thực tiễn đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ vừa đằm vừa sắc, cho thấy một Bằng Việt chân chất, từ tốn, điềm tĩnh và rất nặng tình với mảnh đất gắn bó hơn nửa đời người. Hà Nội là nơi nhà thơ ký thác những suy tư, trăn trở thầm kín nhất của mình:
"Nơi hò hẹn ban đầu, ta chẳng thể nào quên
Bao từng trải về sau càng gắn liền ta lại
Thành phố của tình yêu tươi mới mãi
Nơi cuối cùng lắng lại, hóa hồn tôi!".
(Một chút thầm thì trong tình yêu Hà Nội).
Ở lĩnh vực nghiên cứu, nhà thơ Bằng Việt tham gia nhiều công trình khoa học về văn học nghệ thuật đóng góp cho Hà Nội như: Từ điển văn học I và II, Tổng tập Văn hiến Thăng Long, Kẻ sĩ Thăng Long, Kinh đô Rồng-Từ tinh thần thượng võ tới chủ nghĩa anh hùng, Tuyển thơ 1000 năm Thăng Long, Tuyển tập ký, tản văn xứ Đoài… Những công trình này cho thấy một hướng tiếp cận sâu sắc của ông đối với thành phố, đó là tìm về những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và con người để góp phần nhận diện chiều sâu của Hà Nội.
Bên cạnh sáng tác và nghiên cứu, Bằng Việt còn có nhiều năm tham gia công tác tổ chức, quản lý văn học nghệ thuật và hoạt động quản lý nhà nước của Thủ đô. Trên các cương vị khác nhau, ông để lại dấu ấn qua nhiều đề xuất, sáng kiến và công việc cụ thể, góp phần vun đắp đời sống văn hóa, văn học nghệ thuật Hà Nội.
Với những đóng góp xuất sắc qua nhiều công trình khoa học về văn học nghệ thuật cho thành phố và nhiều tập thơ, tác phẩm viết về Thủ đô Hà Nội, năm 2013, nhà thơ Bằng Việt vinh dự được trao tặng danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú.
Theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn, nhà thơ Bằng Việt là một gương mặt rất quen thuộc với Thủ đô, một gương mặt xuất sắc không chỉ trong lĩnh vực thơ mà còn có rất nhiều đóng góp đối với sự phát triển văn hóa của Hà Nội trong những năm qua. Tình yêu của ông đối với Hà Nội là rất lớn và Giải thưởng Lớn dành cho ông là hoàn toàn xứng đáng.
Đồng quan điểm, nhà báo Hồ Quang Lợi cho rằng, nhà thơ Bằng Việt là một người đã có những cống hiến bền bỉ và xuất sắc cho sự phát triển văn học, nghệ thuật và văn hóa của Thủ đô Hà Nội trong suốt mấy chục năm, trên nhiều cương vị khác nhau. Ông vừa là nhà thơ, vừa là nhà hoạt động văn hóa, vừa là người quản lý hoạt động văn hóa, nghệ thuật ở những vị trí rất quan trọng và có nhiều đóng góp tích cực.
Một hồn thơ sống mãi với thời gian
Thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Bằng Việt mang đến cho thi đàn Việt Nam những vần thơ giàu suy tưởng, chan chứa nhân hậu và đậm đà giá trị nhân văn. Bằng Việt gợi nên hình ảnh một ngọn lửa ấm, âm ỉ tỏa sáng và sưởi ấm những khoảng trời ký ức trong tâm hồn người Việt. Hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút của ông là hành trình của một trí thức tài hoa, một nhà quản lý tận tụy.

Nhà thơ Bằng Việt chia sẻ với phóng viên. Ảnh: Hoà Nguyễn
Thời điểm Bằng Việt bước lên thi đàn Việt Nam thật đặc biệt, một mùa thơ nở chói chang trong khói lửa chiến hào chống đế quốc Mỹ. Trong đội ngũ thi nhân đông đảo ấy, ngay từ đầu, Bằng Việt đã xác lập một một diện mạo riêng với giọng thơ giàu chất tự sự, triết lý. Ở thời kỳ mới chạm ngõ thơ ca ấy, Bằng Việt đã sáng tạo nên Bếp lửa - bài thơ như tán cây rực rỡ vươn mãi suốt chặng dài sáng tạo thi ca của mình. Xa quê học Luật tại Đại học Tổng hợp Kiev (Liên Xô cũ), nỗi nhớ thương gia đình, quê hương, đặc biệt là hình ảnh người bà tần tảo, đã thôi thúc chàng sinh viên 22 tuổi viết nên những vần thơ đầu đời đầy xúc động. Bài thơ Bếp lửa đã trở thành một tác phẩm in sâu vào tâm trí bao thế hệ: "Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/ Một bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!".
Chất thơ Bằng Việt từ buổi đầu đã định hình: lắng đọng, chân thành, lấy tình cảm gia đình, quê hương sâu nặng làm nền tảng. Năm 1968, tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa in chung với Lưu Quang Vũ ra đời, trở thành một hiện tượng văn học. Tập thơ như một luồng gió mới, tươi tắn, hào hoa và giàu suy tưởng.
Đi qua những năm ác liệt ở tuyến lửa khu 4 và dọc đường mòn Hồ Chí Minh trong quân số của Đoàn bộ 559, Bằng Việt đã trở thành một phóng viên chiến trường dày dạn và để lại nhiều bài thơ nóng hổi hơi thở của người lính trong bom đạn đúng vào những năm ác liệt nhất của Quảng Trị, Huế, Tây Nguyên và dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Những bài thơ viết ở chiến trường của ông, sau này được tập hợp lại trong các tập thơ như Những gương mặt, những khoảng trời, Khoảng cách giữa lời, Đất sau mưa, đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học - nghệ thuật.
Sau ngày đất nước thống nhất, bên cạnh sáng tác và nghiên cứu, Bằng Việt có nhiều năm tham gia công tác công tác quản lý văn hóa. Ông lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng, như: Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Hà Nội, Tổng Biên tập báo Người Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội.
Nếu thời kỳ đầu, thơ Bằng Việt nổi bật với vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, thì bước sang thời kỳ Đổi mới, giọng thơ của ông trầm tĩnh, sâu sắc và giàu chiêm nghiệm hơn. Ông cho ra mắt những tập thơ: Phía nửa mặt trăng chìm (1995), Ném câu thơ vào gió (2001), Nheo mắt nhìn thế giới (2008), tuyển tập Thơ Bằng Việt 1986-2016 (2020)…
Nói đến Bằng Việt mà không nhắc đến mảng thơ dịch là một thiếu sót lớn bởi ông là một dịch giả thơ ca tài hoa với những tác phẩm dịch chung, riêng: Thơ Pablo Neruda (1974), Thơ Yannis Ritsos (1978), Lọ Lem (dịch tuyển thơ E.Evtushenko, 1982), Thơ trữ tình thế giới thế kỷ 20 (2004)… Đặc biệt, độc giả Việt Nam không thể quên những bài thơ dịch tuyệt bút như Mùa hè rớt của nữ thi sĩ Olga Berggoltz (Nga): Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm,/ Ta biết lắm thời gian đang tiễn biệt,/ Nhưng mãi đến bây giờ ta mới biết,/ Yêu thương-giận hờn-tha thứ-chia ly...
Sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhà thơ Bằng Việt đã có những cống hiến to lớn cho nền nghệ thuật nước nhà. Ông vừa là nhà thơ, vừa là nhà hoạt động văn hóa, vừa là người quản lý hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương kháng chống Mỹ, cứu nước hạng ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, Giải thưởng văn học ASEAN, Giải thưởng Dịch thuật quốc tế, Giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.
Bước vào độ tuổi xưa nay hiếm nhưng sức làm việc của nhà thơ Bằng Việt vẫn dồi dào, bút lực vẫn đầy đặn, say mê. Và ẩn chứa trong sức lao động miệt mài ấy của ông là niềm đam mê, tài năng và một bề dày văn hóa. Nhà thơ Bằng Việt mãi là ngọn Bếp lửa âm ỉ, bền bỉ, cháy mãi khát khao sáng tạo, đóng góp cho sự phát triển văn học, nghệ thuật và văn hóa của Thủ đô Hà Nội nói riêng và nước nhà nói chung.

