Nhà văn Việt Nam từng ước nguyện giành giải Nobel
'Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy phải ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu'.
Đó là lời nói của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa” của nhà văn Nam Cao. Cũng như các nhân vật nhà văn, nhà giáo, nói chung là hệ nhân vật trí thức, trong sáng tác của Nam Cao đều là hiện thân, là mang hình bóng tác giả. Suy nghĩ và ước nguyện văn chương của Hộ được cho là cũng chính là của tác giả Nam Cao.

Nhà văn Nam Cao. Ảnh tư liệu có sự phục dựng bởi AI.
Gửi khát vọng Nobel vào giấc mơ của người cầm bút trong “Đời thừa”
Nếu ở lớp nghĩa bề mặt, Đời thừa là câu chuyện về bi kịch cơm áo của người trí thức nghèo, về cảnh “cơm áo không đùa với khách thơ” như cách nói của nhà thơ Xuân Diệu, thì ở chiều sâu, tác phẩm là một cuộc đối thoại lớn của Nam Cao về văn chương, về trách nhiệm của nghệ sĩ và giá trị đích thực của một tác phẩm nghệ thuật.
Nhân vật Hộ trong truyện là một nhà văn có khát vọng sáng tạo chân chính. Anh từng mơ viết được những tác phẩm lớn, có giá trị lâu dài, nhưng thực tế cuộc sống nghèo túng, gánh nặng gia đình khiến anh nhiều lần phải viết vội, viết những trang văn mà chính mình cũng cảm thấy hổ thẹn. Nỗi đau của Hộ không chỉ là nỗi đau vật chất, mà còn là bi kịch của một người nghệ sĩ bị hoàn cảnh kéo xa khỏi lý tưởng nghệ thuật.
Nam Cao đã để nhân vật của mình thốt lên những lời tự phán xét đầy ám ảnh: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật đê tiện”.
Với Nam Cao, văn chương không phải là thứ nghề nghiệp chỉ cần sự khéo léo, chạy theo những khuôn mẫu có sẵn. Người nghệ sĩ đích thực phải lao động sáng tạo, phải khám phá những vùng đất chưa ai khai phá, phải đem đến những giá trị mới cho đời sống tinh thần của con người.
Quan niệm ấy được ông thể hiện qua suy nghĩ của Hộ: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có...”
Đặc biệt, khát vọng về một tác phẩm vượt qua mọi giới hạn không gian, thời gian, chạm tới những giá trị chung của nhân loại được Nam Cao gửi gắm trong ước mơ cháy bỏng của Hộ. Khi nghe tin một cuốn sách của đồng nghiệp được dịch sang tiếng Anh, nhân vật này bộc lộ niềm khao khát viết nên một tác phẩm lớn: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn”.
Và đỉnh cao của khát vọng ấy là ước mơ: “Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy phải ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu”.
Trong văn học Nam Cao, những nhân vật trí thức, nhà văn, nhà giáo thường mang nhiều nét tư tưởng, tâm trạng của chính tác giả. Vì vậy, ước mơ của Hộ cũng phản chiếu khát vọng nghệ thuật của Nam Cao: không phải khát vọng danh hiệu, mà là mong muốn tạo ra một tác phẩm có sức sống vượt khỏi biên giới dân tộc, hướng tới những giá trị phổ quát của con người.
Nhà văn của những kiếp người cùng khổ
Nhà văn Nam Cao (1915 - 1951), tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1915 trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Chính mảnh đất nghèo khó này đã trở thành nguồn cảm hứng quan trọng trong sáng tác của ông, nơi lưu giữ những nguyên mẫu nhân vật làm nên tên tuổi một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX như Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc, Bá Kiến, Binh Chức…
Bước vào con đường văn chương từ năm 1934 khi mới 19 tuổi, nhà văn Nam Cao khởi đầu với những sáng tác mang màu sắc lãng mạn. Tuy nhiên, phải đến truyện ngắn Đôi lứa xứng đôi (1941), sau đổi tên thành Chí Phèo, tài năng và phong cách nghệ thuật độc đáo của ông mới thực sự được khẳng định. Từ đây, Nam Cao trở thành một trong những cây bút tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945.
Khác với nhiều nhà văn cùng thời chỉ tập trung phản ánh cái nghèo, cái đói hay những bất công xã hội, nhà văn Nam Cao đi sâu hơn vào thế giới nội tâm của con người. Ông đặc biệt quan tâm đến những số phận bị vùi dập, những con người ở đáy xã hội bị tước đoạt quyền sống, quyền làm người, nhưng vẫn ẩn chứa những phẩm chất tốt đẹp và khát vọng hướng thiện.
Qua hàng loạt truyện ngắn như Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, Một đám cưới, Tư cách mõ, Lang Rận…, nhà văn Nam Cao đã dựng nên bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời đặt ra những vấn đề có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về nhân phẩm, tình thương và quyền được sống của con người.
Không chỉ thành công khi viết về người nông dân, nhà văn Nam Cao còn là nhà văn xuất sắc khi khám phá bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo. Những tác phẩm như Đời thừa, Sống mòn, Trăng sáng đã thể hiện nỗi đau của những con người có hoài bão, có khát vọng sống một cuộc đời có ý nghĩa nhưng bị hoàn cảnh cơm áo bủa vây, đẩy vào trạng thái bế tắc, mòn mỏi.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhà văn Nam Cao tiếp tục gắn bó với cách mạng và cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, làm báo, viết văn phục vụ kháng chiến, từng có mặt trong đoàn quân Nam tiến với tư cách phóng viên và công tác tại báo Cứu quốc, tạp chí Văn Nghệ. Những sáng tác thời kỳ này như Đôi mắt, Nhật ký ở rừng, Chuyện biên giới tiếp tục cho thấy sự chuyển biến trong tư tưởng nghệ thuật và trách nhiệm của một nhà văn trước vận mệnh dân tộc.
Ngày 30/11/1951, trên đường đi công tác vào vùng địch hậu Liên khu III, nhà văn Nam Cao bị địch phục kích và hy sinh tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, khi tài năng đang ở độ chín.
Với những đóng góp đặc biệt cho nền văn học dân tộc, nhà văn Nam Cao được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật đợt I năm 1996. Các tác phẩm tiêu biểu được ghi nhận gồm Chí Phèo, Sống mòn, Đôi mắt, Nhật ký ở rừng, Nửa đêm và Truyện ngắn chọn lọc.











