Nhận diện thách thức đối với xuất khẩu sau lệnh áp thuế mới của Hoa Kỳ

Việc Hoa Kỳ áp dụng thuế bổ sung theo Mục 301 đối với hàng hóa Việt Nam đặt ra nhiều thách thức cho hoạt động xuất khẩu trong nửa cuối năm 2026.

Việt Nam khẳng định nỗ lực tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động

Ngày 24/7/2026, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã công bố chính thức áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung theo Mục 301 về cơ chế ngăn nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với hàng hóa từ 60 nền kinh tế, bao phủ khoảng 99,4% kim ngạch nhập khẩu vào nước này, trong đó có Việt Nam.

Sau khi cơ chế áp thuế theo Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA) bị Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác bỏ vào tháng 2/2026, Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 được lựa chọn làm công cụ pháp lý dài hạn với chu kỳ rà soát 4 năm, đồng thời khó bị đảo ngược thông qua các thủ tục tố tụng.

USTR chia 60 nền kinh tế thành 2 nhóm thuế. Trong đó, 17 nền kinh tế được áp mức 10% do đã ban hành luật cấm, ký Thỏa thuận thuế đối ứng (ART) hoặc xây dựng cơ chế kiểm soát một phần. Nhóm còn lại gồm 43 nền kinh tế chịu mức thuế 12,5% do chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của USTR. Việt Nam thuộc nhóm bị áp mức thuế 12,5%.

Nhóm hàng linh kiện điện tử của Việt Nam không bị áp mức thuế mới. Ảnh minh họa: Đức Thanh

Nhóm hàng linh kiện điện tử của Việt Nam không bị áp mức thuế mới. Ảnh minh họa: Đức Thanh

Việc Việt Nam phải chịu mức thuế 12,5% khiến chi phí xuất khẩu sang Hoa kỳ tăng thêm 2,5 điểm phần trăm so với nhóm các nước ASEAN chịu thuế 10%, qua đó làm suy giảm lợi thế cạnh tranh về giá. Đồng thời, doanh nghiệp xuất khẩu cũng phải đối mặt với rủi ro pháp lý kéo dài trong chu kỳ 4 năm của Mục 301.

Ngay sau khi phía Hoa Kỳ thông báo áp mức thuế mới, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng về quyết định này. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định, quyết định của USTR chưa phản ánh đầy đủ thực tế cũng như những nỗ lực của Việt Nam trong phòng ngừa, giảm thiểu và xóa bỏ lao động cưỡng bức, trong đó có việc cấm nhập khẩu sản phẩm có sử dụng lao động cưỡng bức.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh, chủ trương nhất quán của Việt Nam là nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các điều ước quốc tế và các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên.

Chủ trương này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ và được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Ngày 22/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý ngoại thương, trong đó quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng hành vi cưỡng bức lao động.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, Việt Nam sẽ tiếp tục trao đổi, làm việc với phía Hoa Kỳ trên tinh thần xây dựng, hợp tác, đề nghị phía Hoa Kỳ đánh giá đầy đủ các biện pháp Việt Nam đã triển khai để điều chỉnh mức thuế áp dụng đối với hàng hóa Việt Nam phù hợp với thực tế cũng như các nỗ lực xây dựng pháp luật và thực thi của Việt Nam.

“Mục tiêu xuất khẩu hai con số vẫn khả thi, dù không còn là kết quả mặc định”

Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch khoảng 86,5 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng trên 21% và xuất siêu khoảng 75,3 tỷ USD (trong bối cảnh cả nước nhập siêu hơn 16 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm). Các nhóm hàng xuất khẩu lớn bao gồm: điện tử và linh kiện (27,9 tỷ USD); máy móc, thiết bị (13,8 tỷ USD); dệt may (8,6 tỷ USD); điện thoại và linh kiện (5,6 tỷ USD); giày dép (khoảng 4,6 tỷ USD).

Các ngành dệt may, da giày, gỗ và nội thất, thủy sản được đánh giá chịu tác động tiêu cực rõ nét từ quyết định áp thuế mới của USTR khi thuộc danh mục các mặt hàng bị áp thuế. Trong khi đó, các nhóm hàng điện tử, máy tính, bán dẫn và viễn thông lại không bị áp dụng mức thuế mới này nhờ cơ chế miễn trừ quy mô lớn thông qua Phụ lục A (Annex A).

Câu hỏi đặt ra là, mức thuế mới này sẽ ảnh hưởng thế nào tới mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số của Việt Nam trong năm 2026? Chia sẻ với phóng viên, PGS.TS Đinh Công Hoàng (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số năm 2026 của Việt Nam vẫn có cơ sở.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. PGS.TS Đinh Công Hoàng lưu ý, mức tăng trưởng này tạo nền đệm tốt cho dư địa tăng trưởng năm 2026, nhưng không thể dựa hoàn toàn vào kết quả đó để dự báo cho cả năm, vì mức thuế quan mới bắt đầu tác động từ cuối tháng 7/2026.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ rõ, Phụ lục A là danh mục các mặt hàng được USTR miễn hoàn toàn khỏi mức thuế bổ sung theo Mục 301 và được xem là “tấm khiên chắn” chiến lược khi bảo vệ khoảng 49% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, chủ yếu là các nhóm hàng điện tử, máy tính, bán dẫn và viễn thông. Vì vậy, mục tiêu xuất khẩu hai con số vẫn khả thi, dù không còn là kết quả mặc định.

PGS.TS Đinh Công Hoàng phân tích, việc Hoa Kỳ áp thuế theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 là biện pháp xử lý vấn đề ở cấp độ chính sách nhập khẩu của quốc gia, không phải kết luận rằng hàng hóa hay doanh nghiệp Việt Nam sử dụng lao động cưỡng bức. USTR cho rằng, các nền kinh tế bị điều tra chưa có hoặc chưa thực thi hiệu quả cơ chế ngăn hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức đi vào thị trường của mình.

Do đó, theo ông PGS.TS Đinh Công Hoàng, Việt Nam cần chứng minh tiến bộ thể chế, năng lực thực thi và tính minh bạch của chuỗi cung ứng, thay vì chỉ tranh luận về chất lượng hoặc giá cả hàng xuất khẩu.

“Việt Nam cần triển khai đồng bộ 3 nhóm giải pháp: hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường đối ngoại ở cấp Nhà nước; xây dựng hạ tầng tuân thủ ở cấp ngành; đồng thời tái cơ cấu mô hình kinh doanh ở cấp doanh nghiệp. Nếu chỉ tập trung hỗ trợ giảm chi phí trong ngắn hạn mà không giải quyết các vấn đề cốt lõi về chính sách và năng lực chứng minh nguồn gốc, chuỗi cung ứng, những rủi ro tương tự hoàn toàn có thể tái diễn dưới các biện pháp phòng vệ thương mại khác” - PGS.TS Đinh Công Hoàng khuyến nghị.

Ông cũng cho rằng, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam không nên xem 12,5% chỉ như một mức thuế, mà phải coi đó là chỉ báo về hướng vận động của thương mại toàn cầu. Quyền tiếp cận thị trường ngày càng gắn với khả năng chứng minh sản phẩm được tạo ra như thế nào, nguyên liệu đến từ đâu, người lao động được đối xử ra sao và doanh nghiệp quản trị rủi ro thế nào.

Do đó, việc sớm xây dựng hệ thống dữ liệu và quản trị đáng tin cậy sẽ không chỉ giúp giảm rủi ro thuế, mà còn giúp doanh nghiệp có lợi thế tiếp cận nhãn hàng lớn, nguồn vốn xanh và phân khúc giá trị cao./.

Hà My

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/nhan-dien-thach-thuc-doi-voi-xuat-khau-sau-lenh-ap-thue-moi-cua-hoa-ky-201417.html