Nhận diện từ sớm, tính toán từ xa
Phía sau một phương án sắp xếp lớn là năng lực chủ động và dự báo của cả hệ thống, bởi mỗi thay đổi về trường lớp, bộ máy quản trị, đội ngũ đều có thể kéo theo những vấn đề mới khi đi vào thực tế. Vì thế, muốn biết một phương án đã được tính toán đến đâu, không thể chỉ nhìn vào kết quả sau sắp xếp, mà cần trở lại với cách bài toán được đặt ra và chuẩn bị từ trước.
Sắp xếp cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa: Để những vấn đề phát sinh không trở thành “điểm nghẽn” mới ở cơ sở (Bài 1):

Sau sắp xếp cơ sở giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học vẫn là mục tiêu xuyên suốt.
Thanh Hóa có địa bàn rộng, dân số đông; khoảng một phần ba dân số sinh sống ở khu vực miền núi, địa hình phức tạp, giao thông nhiều nơi còn khó khăn. Những đặc điểm ấy khiến mỗi quyết định về mạng lưới trường lớp đều phải được tính toán kỹ lưỡng, đặt trong những điều kiện đặc thù của từng địa bàn.
Đặt trong bối cảnh ấy, ngay từ khi tiếp nhận chủ trương, ngành giáo dục Thanh Hóa đã xác định đây không phải là câu chuyện đơn thuần về giảm số trường, giảm đầu mối, mà là quá trình tái cấu trúc mạng lưới giáo dục. Quy mô dân số, phân bố dân cư, khoảng cách đến trường, đội ngũ, cơ sở vật chất và nhu cầu học tập của học sinh đều phải được đặt trong những nguyên tắc rõ ràng, xuyên suốt: tinh gọn nhưng không cơ học, tổ chức lại nhưng không làm gián đoạn việc dạy và học, sử dụng hiệu quả nguồn lực nhưng trước hết phải bảo đảm quyền học tập của học sinh.
Trên cơ sở rà soát mạng lưới, đội ngũ, cơ sở vật chất và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2387/QĐ-UBND ngày 5/8/2026 phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; đồng thời hướng dẫn, đôn đốc các địa phương cụ thể hóa phương án.
Cái khó đặt ra với Sở là phải nhìn được “đại cục” nhưng không thể áp dụng một công thức chung cho toàn tỉnh. Những vấn đề về quy mô trường lớp, đội ngũ, cơ sở vật chất, khoảng cách đến trường, mô hình quản trị sau sắp xếp... phải được nhận diện từ sớm ở tầm hệ thống. Nhưng để biết một phương án có thực sự phù hợp hay không, câu chuyện lại phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn.
Câu chuyện ở xã Thiệu Trung cho thấy rõ điều đó. Trước khi sắp xếp, xã có 14 cơ sở giáo dục từ mầm non (MN) đến THCS. Sau sắp xếp, toàn xã còn 3 trường: MN Thiệu Trung, Tiểu học (TH) Thiệu Trung và THCS Thiệu Trung; mỗi trường gồm một trường chính và 4 phân hiệu.
Điều kiện cơ sở vật chất giữa các phân hiệu và trường chính trên địa bàn xã Thiệu Trung có sự chênh lệch rõ nét. Cụ thể, tại phân hiệu Thiệu Viên ở cả 2 cấp TH và THCS, các trường được xây dựng từ lâu nên phòng học đã xuống cấp, nền trường thấp hơn mặt đường, dễ gây ngập úng khi mưa lớn; thiết bị dạy và học chưa được đầu tư đồng bộ...
Sự chênh lệch ấy cũng đặt ra bài toán không đơn giản khi tổ chức lại học sinh giữa các điểm trường. Quá trình tổ chức không thể dồn học sinh một cách cơ học, làm phát sinh bất hợp lý về khoảng cách đi học và điều kiện học tập, hay gây xáo trộn không cần thiết đối với giáo viên, học sinh và phụ huynh. Trong khi đó, bảo đảm khoảng cách đi học hợp lý cũng đồng nghĩa với việc phải tính toán sự chênh lệch sĩ số giữa các lớp trong cùng khối. Chẳng hạn, tổng số học sinh khối lớp 9 của Trường THCS Thiệu Đô (cũ) có 187 học sinh/4 lớp, bình quân khoảng 46 - 47 học sinh/lớp; trong khi Trường THCS Thiệu Vận (cũ) chỉ có tổng 64 học sinh/2 lớp khối 9, bình quân khoảng 32 học sinh/lớp.
Thực tế ở Thiệu Trung cho thấy, để tìm được phương án phù hợp, việc rà soát và điều chỉnh là một phần không thể thiếu của cả quá trình sắp xếp. Được biết, xã Thiệu Trung đã 3 lần thay đổi phương án sắp xếp cơ sở giáo dục trước khi “chốt” phương án cuối cùng. “Mỗi lần điều chỉnh phương án là một lần chúng tôi rà soát lại thực tế, đánh giá những điểm còn chưa phù hợp để tiếp tục tính toán. Việc thay đổi không phải là làm lại từ đầu mà là để phương án ngày càng sát với điều kiện của địa phương, bảo đảm khi triển khai không phát sinh những bất hợp lý. Quan trọng nhất là tìm được phương án phù hợp và hiệu quả nhất”, ông Lê Duy Quang, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội, UBND xã Thiệu Trung, chia sẻ.
Tại phường Sầm Sơn, nhiều phương án sắp xếp cũng đã được tính toán, trong đó có cả phương án tổ chức mô hình trường liên cấp bằng cách hợp nhất hai cấp học trên cùng địa bàn. Bám sát quan điểm, định hướng của Trung ương và của tỉnh, sau nhiều lần cân nhắc trên cơ sở thực tiễn, phường Sầm Sơn lựa chọn phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục theo hướng đồng cấp, bảo đảm sự ổn định trong tổ chức và thuận lợi cho quá trình vận hành.
Là đô thị du lịch biển hiện đại, quy mô trường, lớp lớn nên phường Sầm Sơn có nhiều thuận lợi khi triển khai sắp xếp cơ sở giáo dục. Ngay từ khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phường đã chủ động rà soát, đánh giá thực trạng trường, lớp trên địa bàn, nhất là những cơ sở, hạng mục đã xuống cấp để xây dựng phương án đầu tư, nâng cấp phù hợp. Đây cũng là một phần quan trọng trong quá trình chuẩn bị các điều kiện để mạng lưới giáo dục sau sắp xếp vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu dạy và học. Thời gian tới, phường tiếp tục bố trí nguồn lực sửa chữa, nâng cấp một số điểm trường, đồng thời đầu tư bổ sung thiết bị dạy và học, với tổng kinh phí dự kiến khoảng 12 tỷ đồng.
Từ phía các trường học, những khó khăn, thách thức trong việc vận hành mô hình trường học quy mô lớn, nhiều phân hiệu cũng đã được nhận diện và đang từng bước tháo gỡ. Sau sắp xếp, các nhà trường chủ động chuẩn bị đội ngũ, cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện cần thiết, khẩn trương “bắt nhịp”, ổn định tổ chức, xây dựng quy chế làm việc nội bộ, thành lập các tổ chuyên môn, chức danh kiêm nhiệm, phân công nhiệm vụ “rõ người, rõ việc”. Tuy nhiên, bài toán về quản trị, về chênh lệch cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học giữa trường chính và các phân hiệu, về tình trạng thiếu giáo viên... vẫn hiện hữu.

Học sinh Trường TH Lê Văn Tám, phường Sầm Sơn dự lễ khai giảng năm học mới.
Thầy Nguyễn Bá Đồng, Hiệu trưởng Trường TH Lê Văn Tám, phường Sầm Sơn, cho biết: “Sau sắp xếp, nhà trường đã tổ chức họp hội đồng chuyên môn, đánh giá tình hình thực tế, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp cho năm học mới. Chúng tôi xác định, khi mô hình tổ chức thay đổi, quá trình vận hành chắc chắn sẽ phát sinh những vấn đề mới, kéo theo không ít khó khăn, thách thức. Vì vậy, từ việc bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên đến sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất giữa trường chính và các phân hiệu đều phải được tính toán phù hợp, nằm trong một chỉnh thể thống nhất, không tạo ra khoảng cách về điều kiện dạy và học, cũng như khoảng cách về tâm lý giữa giáo viên và học sinh”.
Vì thế, xây dựng và tổ chức thực hiện phương án là một quá trình liên tục, trong đó thực tiễn vận hành tiếp tục kiểm chứng và hoàn thiện những tính toán ban đầu. Nhận diện ở cấp tỉnh, kiểm chứng ở cơ sở; dự báo từ trước, theo dõi trong vận hành; phát hiện vấn đề và điều chỉnh trước khi vấn đề trở thành điểm nghẽn - đó là chuỗi năng lực cần có sau một cuộc sắp xếp lớn.
Điều này càng thể hiện rõ ở miền Tây xứ Thanh, nơi những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp mới khánh thành đang mở ra cơ hội học tập tốt hơn cho trẻ em vùng biên. Nhưng phía sau niềm vui ấy đặt ra những vấn đề mới của quá trình vận hành. Mô hình trường phổ thông nội trú liên cấp còn mới, hành lang pháp lý chuyên biệt chưa đầy đủ; một số trường vẫn tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất. Ở một số điểm trường vùng cao, điều kiện bán trú cho học sinh, chỗ ăn ở của các thầy cô chưa bảo đảm; việc đưa học sinh lớp 4, lớp 5 về trường chính cách nhà 15 - 20km, xa gia đình nhiều ngày, cũng khiến phụ huynh trăn trở...
Anh Thiều Đình Ngọc, thôn Vịn, xã Bát Mọt, tâm sự: “Nhà tôi cách điểm trường khu Vịn khoảng 2km, còn đến trường chính thì khoảng 15km. Con tôi năm nay mới vào lớp 1 nên vẫn đang học ở điểm trường Vịn, Trường Phổ thông nội trú TH và THCS Bát Mọt, xã Bát Mọt. Tôi được biết, từ năm học này, học sinh khối lớp 4, lớp 5 sẽ không học tại điểm trường nữa mà đưa ra trường chính. Nghĩ đến các cháu còn nhỏ phải xa gia đình, nhiều việc chưa thể tự lo cho mình, tôi cũng không khỏi băn khoăn, thương các cháu”.
Những lần rà soát, những phương án được điều chỉnh và cả những vấn đề đã được dự báo hay mới phát sinh trong những ngày đầu vận hành cho thấy: sắp xếp cơ sở giáo dục không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối mà là quá trình tổ chức lại nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm tốt hơn điều kiện học tập cho người học. Bởi vậy, hiệu quả của việc sắp xếp này không chỉ được đo bằng những con số tinh gọn mà ở những thay đổi thực chất trong mỗi ngôi trường, mỗi lớp học và trên hành trình phát triển của mỗi học sinh.
Trong yêu cầu tạo bước đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị, việc sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục không chỉ là tổ chức lại trường lớp, tinh gọn đầu mối một cách cơ học mà hướng tới một hệ thống giáo dục hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập và sự phát triển của mỗi học sinh. Khi năm học mới bắt đầu, từ thực tiễn vận hành, quản trị - nơi mỗi vấn đề được nhận diện, mỗi điều chỉnh được thực hiện và mỗi kết quả đạt được sẽ góp phần trả lời câu hỏi: Việc sắp xếp lại mạng lưới đã tạo nên những bước chuyển như thế nào cho giáo dục Thanh Hóa?
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/nhan-dien-tu-som-tinh-toan-tu-xa-302296.htm
