Nhiệm kỳ Đại hội XIII: Giảm nghèo bền vững, lấy con người làm trung tâm

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, công tác giảm nghèo tiếp tục là một trong những thành tựu nổi bật, để lại dấu ấn rõ nét. Các chỉ tiêu giảm nghèo trong những năm qua đều đạt và vượt mục tiêu Quốc hội, Chính phủ giao.

Giảm nghèo đa chiều, bền vững và bao trùm là quan điểm mới được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Đây là định hướng quan trọng để xây dựng, ban hành và triển khai đồng bộ hệ thống chính sách đầu tư, hỗ trợ các địa bàn đặc biệt khó khăn trong giai đoạn 2021–2025, qua đó góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giữa các dân tộc, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Giảm nghèo bền vững tiếp tục là một thành tựu nổi bật trong giai đoạn 2021 - 2025. Ảnh minh họa

Giảm nghèo bền vững tiếp tục là một thành tựu nổi bật trong giai đoạn 2021 - 2025. Ảnh minh họa

Nhận diện trúng thực trạng nghèo

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, công tác giảm nghèo tiếp tục là một trong những thành tựu nổi bật, để lại dấu ấn rõ nét. Các chỉ tiêu giảm nghèo trong những năm qua đều đạt và vượt mục tiêu Quốc hội, Chính phủ giao.

Báo cáo của Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm mạnh, từ 5,2% năm 2021 xuống còn khoảng 0,9–1,1% vào năm 2025 (dự kiến). Riêng tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số giảm còn 12,55%, bình quân mỗi năm giảm hơn 4,45%.

Theo luật sư Nguyễn Cao Thông – Trưởng Văn phòng Luật sư Cao Thông và Cộng sự (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), thành tựu trong giảm nghèo giai đoạn vừa qua không chỉ thể hiện ở các con số thống kê, mà quan trọng hơn là sự thay đổi về cách tiếp cận.

Luật sư Thông phân tích, theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ, giai đoạn 2022–2025, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1,5 triệu đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn (khu vực thành thị là 2 triệu đồng/người/tháng), đồng thời phải thiếu hụt tối thiểu 3 trong 6 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin.

“Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025 giúp Nhà nước nhìn rõ hơn bức tranh toàn diện của nghèo đói, đồng thời tiệm cận các chuẩn mực quốc tế do Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc đề xuất”, luật sư Thông nhận định.

Với Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Việt Nam đã có 8 lần ban hành chuẩn nghèo quốc gia. Điểm đặc biệt của chuẩn nghèo giai đoạn vừa qua là đã bám sát định hướng trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giảm nghèo đa chiều, bền vững và bao trùm.

Từ năm 1993 đến năm 2015, hộ nghèo được xác định chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập (nghèo đơn chiều). Giai đoạn 2016–2020, Việt Nam đã áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, tuy nhiên hộ nghèo được tách thành hai nhóm: hộ nghèo về thu nhập và hộ nghèo về thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của các địa phương.

Theo ông Phạm Hồng Đào – Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là một trong những quốc gia đầu tiên ở châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu gắn với các mục tiêu phát triển bền vững.

“Việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều là bước ngoặt lịch sử trong công tác giảm nghèo ở Việt Nam. Đây là minh chứng cho quyết tâm đổi mới tư duy, lấy con người làm trung tâm, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bao trùm và bền vững”, ông Đào cho biết.

Tạo xung lực bước vào kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện mục tiêu đó, phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững được xác định là một trong ba trụ cột. Với nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau” trên hành trình phát triển, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên cho các địa bàn còn nhiều khó khăn và các đối tượng yếu thế, trong đó có nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Chính vì vậy, việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP là cơ sở để thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo và an sinh xã hội, đồng thời hoạch định các chương trình phát triển kinh tế – xã hội cho vùng “lõi nghèo” của cả nước.

Giai đoạn 2021 - 2025 có 35,8% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn. Ảnh: Vũ Mừng

Giai đoạn 2021 - 2025 có 35,8% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn. Ảnh: Vũ Mừng

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2021–2025 là thời kỳ đồng thời triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các nguồn lực được lồng ghép hiệu quả đã góp phần quan trọng làm giảm số địa bàn đặc biệt khó khăn ở khu vực này.

Theo báo cáo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, hết năm 2025, toàn vùng có 35,8% số xã (trong tổng số 1.551 xã khu vực III theo Quyết định số 861/QĐ-TTg) ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; có 26,9% số thôn (trong tổng số 13.222 thôn đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT) đã thoát nghèo.

Với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2025 theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg (Chương trình MTQG 1719), các bộ, ngành và địa phương đánh giá đây là “cú hích” quan trọng, tạo xung lực phát triển cho vùng “lõi nghèo”.

Trên tinh thần giảm nghèo bền vững và bao trùm của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, giai đoạn 2021–2025, có 9 địa phương (trước sáp nhập) ban hành chuẩn nghèo đa chiều cao hơn chuẩn nghèo đa chiều quốc gia; 12 địa phương ban hành chính sách giảm nghèo đặc thù cho nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo không có khả năng lao động.

Tại hội nghị tổng kết toàn quốc ngày 13/8, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung cho biết, kết thúc giai đoạn, Chương trình MTQG 1719 đã hoàn thành 6/9 nhóm mục tiêu. “Hai trong số những mục tiêu này là bản lề và nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội, đó là tỷ lệ giảm nghèo và thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số”, Bộ trưởng khẳng định.

Đổi mới để thích ứng

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đặt chỉ tiêu trong 5 năm tới, tỷ lệ hộ nghèo duy trì mức giảm 1–1,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2026–2030 (được quy định tại Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025).

Ông Phạm Hồng Đào - Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo cho biết, trong năm 2026, việc xác định hộ nghèo tiếp tục áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn 2022–2025. Từ năm 2027 sẽ áp dụng chuẩn nghèo mới theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP.

Theo đó, hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người 2,2 triệu đồng/người/tháng trở xuống (khu vực thành thị là 2,8 triệu đồng) và thiếu hụt tối thiểu 3 chỉ số đo lường.

Hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm tiếp tục là chính sách cần thiết để giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững. Ảnh: Nguyễn Hiền

Hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm tiếp tục là chính sách cần thiết để giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững. Ảnh: Nguyễn Hiền

“Trong bộ tiêu chí giai đoạn tới, một số chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội được điều chỉnh để phản ánh xu hướng phát triển mới. Chẳng hạn, bỏ tiêu chí về phương tiện thông tin, bổ sung tiêu chí về sử dụng dịch vụ số, internet và khả năng xử lý rác thải sinh hoạt”, ông Đào cho biết.

Theo ông Đào, việc điều chỉnh tiêu chí dịch vụ xã hội để nhận diện tình trạng nghèo là cần thiết trong bối cảnh đất nước chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, định hướng phát triển nhanh, xanh và bền vững. Chuẩn nghèo với cách tiếp cận mới là nền tảng để tiếp tục triển khai các chính sách giai đoạn 2026–2030, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bao trùm và bền vững.

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025. Chương trình đặt mục tiêu duy trì mức giảm nghèo đa chiều từ 1 - 1,5%/năm, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%.

Dự kiến, nguồn vốn ngân sách Trung ương bố trí cho giai đoạn 2026 - 2030 là 100.000 tỷ đồng, cùng với khoảng 300.000 tỷ đồng vốn đối ứng từ ngân sách địa phương. Nguồn lực này tập trung vào 3 nhóm giải pháp trọng tâm: phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội thích ứng với biến đổi khí hậu; hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm bền vững; nâng cao năng lực quản lý thông qua chuyển đổi số.

Sỹ Hào

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/nhiem-ky-dai-hoi-xiii-giam-ngheo-ben-vung-lay-con-nguoi-lam-trung-tam-2480080.html