Nhớ một tiếng còi tàu…

VHXQ - 'Từng pha gió lạnh bay vào/Ngẩn ngơ ta xuống ga nào hỡi em?'. Phút đứng Ở sân ga Trà Kiệu vắng tanh, bỗng nhớ hai câu đó của thi sĩ Hồ Dzếnh. Nhớ vì hồi đi học, tàu chợ đi như 'rùa đau thận', 1 giờ chiều ở ga Đà Nẵng, 8-9 giờ đêm, thậm chí 10 giờ đêm mới đến Huế. Tàu chợ mà. Ôi thôi là như cái chợ!

Ga Trà Kiệu đón chuyến tàu di sản. Ảnh: Lê Trọng Khang

Ga Trà Kiệu đón chuyến tàu di sản. Ảnh: Lê Trọng Khang

Từ hàng hóa đến kẻ đi là đám sinh viên, người lao động nghèo và mấy bà bán hàng rong, toàn chuồn vé. Khi nhân viên kiểm soát đi kiểm tra thì… tẩu đến chỗ nối hai toa, trèo lên nóc tàu. Sau này nghĩ lại, là họ biết thừa, nhưng chẳng thèm bắt. Khi tàu chạm vào đất Đà Nẵng, lại hỏi nhau: Mi nhảy xuống ga mô? Từ Huế về thì ngang chỗ đường chắn Thanh Khê, tàu chậm lại, nhảy, dại mà ráng tới ga Đà Nẵng là không có đường thoát…

1. Ga vắng tanh. Chị bán vé nói ngày bình thường chỉ chừng 15 người khách. Nhiều nhất là hè và tết, sinh viên rồi người xa quê về. Mấy phút sau, có tàu hàng ầm ầm đến. Rồi đi.

Xe tiếng bánh sắt rít, nhớ hồi đó ai đó nói tàu chợ Huế - Đà Nẵng chạy cà giựt theo nhịp “mi cực-tau cực-mi cực-tau-cực”. Ít khách, nhưng cái ga này, ngày 12/1/2025, ngành du lịch Quảng Nam đã tổ chức đón tàu SJourney tại ga Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên cũ) - là chuyến tàu được thiết kế với tiêu chuẩn quốc tế, hành trình kéo dài 8 ngày 7 đêm xuyên Việt, nối liền Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Những hành khách ngàn đô dừng tại ga Trà Kiệu. Ảnh: Lê Trong Khang

Những hành khách ngàn đô dừng tại ga Trà Kiệu. Ảnh: Lê Trong Khang

Chuyến tàu mang ký hiệu SE61, khởi hành vào tối thứ Tư hằng tuần từ Hà Nội, dừng chân tại các điểm đến như Ninh Bình, Quảng Bình, Huế, Trà Kiệu, Nha Trang, Phan Thiết và kết thúc tại ga Sài Gòn vào sáng thứ Tư tuần sau. Lúc đó, tôi đoán nhiều người sẽ… ngẩn ra: Vì sao đón ở Trà Kiệu, rồi xe cộ ùn ùn tới rước? Lý do: từ đây đi Mỹ Sơn rồi xuống Hội An, là đẹp như mơ… Sự kiện đó bỗng nhắc tôi nhớ một chuyện.

Tôi có thằng bạn học, hè về là nó làm thêm nghề buôn heo lậu. Mang tiếng là buôn, nhưng thực chất là phụ bà già. Thời điểm năm 1990 - 1991, chở heo đi bán mà số lượng nhiều thì cũng bị quản lý thị trường soi giữ, phạt chết bỏ.

Nhà hắn ở Duy Sơn, gần ga Trà Kiệu, má hắn giỏi bán buôn, một tay nuôi bầy con học đại học, cao đẳng. Hắn phụ bà đưa heo lên tàu ở ga Trà Kiệu. Lý do: Quản lý thị trường ít lên tàu soát, chứ chở xe hơi, coi chừng ăn… cám. Tất nhiên đi thì mua vé, thi thoảng dấm dúi anh em kiểm soát ít đồng uống nước.

Nhưng y như hắn và tôi chuồn tàu chợ, tuyệt đối đi… tiểu lộ là ga xép chứ không… đại lộ ga chính, hễ tàu đến ngang Tam Tòa chạy chậm chuẩn bị vào ga, là hắn đạp hết heo xuống. Ở dưới, đã có… fan là xe thồ, bốc lên chạy tới lò mổ. Hắn cũng nhảy theo hướng tàu chạy mấy bước theo quán tính. Sau này nhắc lại, hắn phủi tay: Vui thôi, tự hào gì, nghèo mà!

Tàu vào ga Trà Kiệu. Ảnh: Lê Trọng Khang

Tàu vào ga Trà Kiệu. Ảnh: Lê Trọng Khang

2. Tôi đi tìm sử liệu, thì có người nói hỏi Cục Đường sắt, chứ ngay đây không có. Còn trong ký ức ông Phạm Văn Ba, nhà gần đây, thì nó như rành rành.

…“Tôi sinh năm 1943, nhưng cái ga ni đã có từ thời tôi còn nằm trong bụng mẹ. Hồi đó, ngay đây có sân bóng chuyền, lớn lên cỡ 15 - 16 tuổi tôi hay tới đánh bóng chuyền cá độ. Lúc nớ đông khách, nhộn nhịp lắm. Nhớ ông trưởng ga người Việt chứ không phải người Pháp, quyền to lắm, đi ngang phòng ổng không dám ngó vô.

Khách đông, vì hồi nớ sắt, xi măng trong Nam chở ra đây, nó đưa vô nhập kho gần hơn ra ga Đà Nẵng chở về. Rồi khách ở đây đi Sài Gòn, Huế, đi các nơi khác. Ga đây là ga chính, chứ ga Gò Nổi mới sau ni thôi.

Dân cư quanh đây ít, cũng chừng 10 hộ. Hồi đó bom đạn thì chu choa, đồn Hòn Bằng nện xuống quá chừng, sụp luôn bồn nước xây cao để tiếp nước cho tàu vì chạy hơi nước, chỉ có cái giếng là nó không san được. Phải nói là người Pháp giỏi. Họ xây ga, đào cái giếng không bao giờ hết nước. Tàu chạy miết.

Chiến tranh lan rộng, đâu từ năm 1966. Có người nói, cũng thời đó, Pháp mở đường từ cầu Chiêm Sơn chạy tới Nông Sơn để chở than đá, củi, nhưng nó không phải về đây mà chạy ra Đà Nẵng. Tôi nhớ như in là ga ni im luôn, phải chờ sau 1975 mới hoạt động lại…”.

Ông Phạm Văn Ba. Ảnh: Trung Việt

Ông Phạm Văn Ba. Ảnh: Trung Việt

Tôi nghe ông nói, mường tượng những ngày tháng tàu không đến không đi. Quạnh vắng. Những ga lẻ, ga xép đi vào văn học như mặc định những đoạn trường chia ly, những cái vẫy tay mong ngày tái ngộ lẫn giữa ngậm ngùi nước mắt không hẹn ngày về.

Nó từ văn học, gieo vào dân gian nỗi u buồn réo rắt lẫn leo lét của quán khuya, mưa sớm, những cái rùng mình cô lẻ. Có câu hát đó “một đoàn tàu biết mấy sân ga”. Xuống rồi lên tàu, như chuyện giao kết tạm thời, còn nó, ga đó - tàu đây, một đời cô độc.

Tôi không nguôi ám ảnh nàng Lara của Boris Pasternak trong “Bác sĩ Zhivago” khăn choàng trắng rùng mình trong gió tuyết, khi mỗi lần có dịp đến ga, cả những lúc lên tàu. Những chập chùng, thườn thượt kéo lê rít nghiến như đay nghiến, như giày vò, như giằng xé, như hạch tội.

Trẻ con trên chuyến tàu. Ảnh: Doãn Quang

Trẻ con trên chuyến tàu. Ảnh: Doãn Quang

3. Lần nào ra Quảng Trị tôi cũng ngủ trên gác nhà thằng bạn ở đường Trần Hưng Đạo, sát đường sắt. Nằm mà hóng tiếng còi tàu chuẩn bị vào - ra ga Đông Hà. Khuya hay sớm, nghe nó vang lên như hồi tù và thúc gọi những bình nguyên xa xôi một thuở mà ngựa bây giờ đã chùn chân. Nó thúc còi mà tim như nghẹn, dù có khi chẳng nghĩ gì.

Ráng đọc trong não mình nghĩ cái gì, vì sao lại như thế, đành chịu, để một ngày đã rất lâu, đọc lại thơ Trần Vàng Sao mới bừng tỉnh: “Tôi vẫn sống vẫn ăn vẫn thở như mọi người/ Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ/ Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu/ Một vết bùn khô trên mặt đá/ Không có ai chia tay/ Cũng nhớ một tiếng còi tàu” (Bài thơ của một người yêu nước mình).

Cũng ông Ba rằng, hồi đó, nhờ cái ga Trà Kiệu mà bà con làm ăn được lắm. Chốn xa xôi trong núi ni mà đã có tạp hóa bán bia của một người tên Phan. Nhờ cái ga này, dân nhờ, đi xa thì lên đây. Các công ty nhờ lắm, ở đây luôn có 3-4 toa chờ sẵn để bà con đưa hàng lên.

Tôi đem ám ảnh tiếng còi ra nói với ông, rằng nó như thành phần dự vào đời sống ai đó, không có không được, thành thói quen, thành ký ức cháy lòng. Ông chồm lên cười: “Đó cũng là một lợi ích! Dân ở đây làm nông nghiệp, tàu đi ngang qua, chạy cà ịch cà ịch vì đầu hơi nước, rồi hụ còi, thì nó như con gà gáy, kêu bà con dậy nấu cơm để đi làm. Rồi vì dậy sớm thành quen, có khi không có chuyện chi làm, nên sẽ hiểu vì răng bà con ở đây… đẻ nhiều”.

Tôi đứng trong sân ga quạnh vắng lất phất mưa, thấy nó như một người trầm tư ngồi miệt mài nhìn ngắm. Giao thông hiện đại, đẻ thêm ga chứ không bớt, bởi đường sắt vẫn là con đường huyết mạch. Nên nhớ ông Ba rằng, ai làm đường cao tốc chi không biết, chứ tôi tin ga ni còn miết! Nó vẫn im, bặt tiếng còi.

Phút nghỉ ngơi của nó như lời dặn dò của một triết gia đã thấu triệt bản thể trời đất, rằng những xê dịch gì đó, rồi có lúc cũng phải dừng. Dừng để mà đi. Những tiếp nối vô tận. Cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Tàu không chạy qua, không kẻ đón người đưa, chỉ cần thấy cái đường ray, thấy cái ga, là nhớ tiếng còi…

TRUNG VIỆT

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nho-mot-tieng-coi-tau-3319100.html