Nhóm văn nghệ 'Nguồn Hàn', dấu son thời kháng Pháp
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giữa muôn trùng khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm, đất Quảng Trị vẫn hình thành nên một tổ chức văn nghệ cách mạng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc giai đoạn 1947-1952. Đó là nhóm văn nghệ “Nguồn Hàn”.
"Nguồn Hàn" nghĩa là nguồn của một con sông ở phía Nam tỉnh Quảng Trị-sông Thạch Hãn. Tên gọi này, theo cách lý giải của nhà thơ Lương An,cũng khá thú vị. Ông viết: "Mở đầu những trang hồi ức này, điều trước tiên tôi muốn nói đến là cái tên Nguồn Hàn của nhóm văn nghệ. Đây là một cái tên hẳn bấy giờ không phải nhiều người hiểu rõ gốc gác nhưng trước kia lại là những chữ đầu lưỡi trong nhân dân tỉnh ta… Nguồn Hàn là nguồn sông Thạch Hãn, dòng sông dài nhất, lớn nhất, trong nhất, do đó được xem là đại diện sông nước quê nhà…”.

Nhà thơ Vĩnh Mai - Ảnh tư liệu
Cũng cần nói thêm rằng khi ban vận động ở chiến khu Ba Lòng bàn bạc, đưa ra nhiều tên gọi để cán bộ tuyên huấn, văn nghệ sĩ lựa chọn, như: Ba Lòng, Mai Sơn, Nguồn Hàn…, gần như ngay lập tức tên gọi Nguồn Hàn đã chinh phục mọi người và được nhất trí cao, trở thành tên gọi chính thức của tổ chức văn nghệ kháng chiến ở Quảng Trị. Từ đây, nhóm còn thu hút các văn nghệ sĩ ở Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, góp phần tạo nên một nét son văn hóa, văn nghệ của Bình Trị Thiên trong những năm tháng chiến tranh.
Những sáng lập viên và những người nòng cốt của nhóm văn nghệ Nguồn Hàn là Dương Tường, Chế Lan Viên, Vĩnh Mai, Hồng Chương, Nguyễn Khắc Thứ…; ở Quảng Bình có Lưu Trọng Lư; xứ Huế có Hải Bằng, Bửu Tiến… Nhà thơ Dương Tường là người phụ trách nhóm; ông về sau đã anh dũng hy sinh trong trận đánh chống Pháp càn, khi tuổi đời còn rất trẻ.
Như đã nói, nhóm văn nghệ Nguồn Hàn ra đời với mục đích tập hợp văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến, động viên bộ đội, du kích và Nhân dân hăng hái tham gia đánh đuổi thực dân Pháp, phục vụ chiến đấu, đẩy mạnh tăng gia sản xuất… vì mục tiêu cao cả: Độc lập, tự do.
Và trong các thể loại văn học nghệ thuật, thơ, vè được đánh giá là có sức lan tỏa nhanh trong quần chúng, góp phần động viên quân và dân vượt qua chông gai, bom đạn, quyết tâm kháng chiến, kiến quốc. Những bài thơ hay mà mộc mạc, chân tình, gây xúc động, như "Bầu bí dân quân", "Về làng", "Tiếng cây dương Mỹ Thủy", "Cô lái đò"… vừa ra đời đã được mọi người đón nhận.
Phong trào sáng tác sôi nổi và lan rộng khắp Bình Trị Thiên lúc bấy giờ, thu hút nhiều người tham gia. Có thể kể đến trường ca "Tiếng hát sông Gianh" của Xuân Hoàng, "Giải phóng Ba Đồn" của Lê Hồng Cẩn… hay "Vè chiến thắng Ưu Điềm-Thanh Hương" của Hoàng Tài… Về ký họa, có những bức tranh cổ động chiến thắng của Trần Thanh Tâm; về âm nhạc có những sáng tác của Mặc Hy…
Lúc kháng chiến mới nổ ra, sống ở chiến khu, ngóng về quê nhà ở đồng bằng, Vĩnh Mai có bài thơ “Nhớ đồng”, với những câu tả cảnh ngụ tình tha thiết khi nhắc lại một thuở thanh bình: “Đâu những đoàn người bước, bước nhanh/Ven đường quốc lộ giữa đêm thanh/Đâu con đò nhỏ trên sông vắng?/Lặng lẽ đưa ngang khách lữ hành…”.

Từ trái sang: Nhà thơ Hải Bằng, nhà văn Nguyễn Khắc Thứ, nhà văn Trần Quốc Tiến đều tham gia nhóm Nguồn Hàn - Ảnh tư liệu
Có nhiều tác giả tuy mới tham gia nhưng đã có tác phẩm được nhiều người biết đến, như Hồng Chương, Nguyễn Khắc Thứ…
Sau 1 năm kháng chiến chống Pháp, Hồng Chương đã tham gia Đội Biệt động Đường 9. Từ những cuộc chiến đấu gian lao, anh dũng ấy, ông đã cho ra đời bài thơ dài mang dáng dấp trường ca "Biệt động đường số 9". Tác phẩm mang hơi hướng của một "tráng sĩ hành" hiện đại về người chiến sĩ trong buổi đầu tham gia cách mạng.
Những câu thơ mang âm hưởng tráng ca hào sảng ra đời trong khói lửa Đường 9 một thời kháng Pháp trên quê hương Quảng Trị: “Thuở đất nước mịt mù khói đạn/Thân nam nhi dày dạn phong sương/Tuốt gươm cắp súng lên đường/Âm thầm chính khí, hào hùng nước non/Xót quốc biến gia vong lắm lúc/Tím bầm gan sùng sục uất đầy/Vứt đe, quẳng bút, xếp cày/Đoàn quân biệt động từ nay ra đời/Người chiến sĩ ra nơi chiến đấu/Gót rỗ nhăng in dấu hành binh/Sẹo ghi từng trận chiến chinh/Mắt hoe lửa giận, trán khinh hiểm nghèo…”.
Hoặc như nhà văn Nguyễn Khắc Thứ đã có ký sự “Trận Thanh Hương”, tái hiện hào khí chống càn của quân và dân bằng lối viết chân thực, sinh động tại khu vực Huế giáp ranh với Quảng Trị. Đây là chiến thắng của quân và dân ta trong bối cảnh lực lượng Pháp có ưu thế về quân số và trang bị nhưng cuối cùng cũng thất bại trước sự chiến đấu và mưu trí của lực lượng chống càn. Tác phẩm đoạt giải nhì tại giải thưởng văn nghệ toàn quốc năm 1952, đồng hạng với tiểu thuyết “Xung kích” của nhà văn Nguyễn Đình Thi, là một dấu ấn từ chiếc nôi văn nghệ Nguồn Hàn.
Nhà giáo Trương Quang Đệ, một người Quảng Trị hiểu khá rõ về nhà văn Nguyễn Khắc Thứ lúc sinh thời, từng nhận xét: “Toàn bộ tâm huyết của nhà văn Nguyễn Khắc Thứ có lẽ được đọng lại lâu bền trong ký sự chiến tranh 'Trận Thanh Hương', ra đời trong những ngày khói lửa. Trận đánh xảy ra trên địa bàn xã Thanh Hương, đã đi vào lịch sử như một trận vận động chiến quan trọng của chiến trường Bình Trị Thiên, đã làm mọi người phấn chấn vì ta có thể đánh địch 'giữa ban ngày', mặt giáp mặt, súng đọ súng…”.
Đến năm 1952, nhóm văn nghệ Nguồn Hàn được đổi tên thành Phân hội Văn nghệ Quảng Trị, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Dù không còn tên gọi ấy, Nguồn Hàn vẫn trở thành một dấu son không thể phai mờ của một thời Bình Trị Thiên khói lửa.

