Nhu cầu nguyên liệu mạnh, hàng hóa nhập khẩu 7 tháng tăng tới 34%
Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu 20 tỷ USD, nhập khẩu hàng hóa ở mức 340 tỷ USD, xuất khẩu đạt 319 tỷ USD.
Báo cáo kinh tế - xã hội công bố sáng ngày 3/8 của Cục Thống kê cho biết, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tháng 7/2026 đạt 109,7 tỷ USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm trước (YoY), bao gồm 53 tỷ USD xuất khẩu, tăng 25% YoY; nhập khẩu đạt 56,6 tỷ USD, tăng 41% YoY.
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu hàng hóa trong kỳ đạt 319,5 tỷ USD, tăng 21,7% YoY; nhập khẩu đạt 340 tỷ USD, tăng 34,8% YoY
Cục Thống kê cho rằng, kết quả trên đã phản ánh đà tăng trưởng mạnh của hoạt động xuất, nhập khẩu. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đã khiến cán cân thương mại nhập siêu 20,52 tỷ USD, chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và hàng hóa phục vụ sản xuất, đầu tư đang gia tăng.
Xuất khẩu tăng ở hầu hết các nhóm hàng
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu hàng hóa khu vực trong nước đạt 63,64 tỷ USD, tăng 5,8% YoY, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 255,89 tỷ USD, tăng 26,4% YoY, chiếm 80,1%.
Về cơ cấu nhóm hàng, nhóm công nghiệp chế biến đạt 287,91 tỷ USD, chiếm 90,1%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 22,79 tỷ USD, chiếm 7,1%; nhóm hàng thủy sản đạt 6,86 tỷ USD, chiếm 2,2%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 1,97 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Trong kỳ, Việt Nam có 31 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 93% tỷ trọng. Nhóm điện tử tiếp tục dẫn đầu kim ngạch, theo sau là nhóm hàng may mặc, gỗ và phương tiện.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với trị giá 85,1 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm trước; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 40,1 tỷ USD, tăng 24,6% YoY; điện thoại và linh kiện đạt 38,4 tỷ USD, tăng 18,6% YoY.
Việt Nam thu về 22,8 tỷ USD từ xuất khẩu hàng dệt may trong kỳ, tăng 1,1% YoY; giày dép đạt 14,1 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7% YoY; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 11,6 tỷ USD, tăng 16,3% YoY; gỗ và sản phẩm gỗ ở mức 10,2 tỷ USD, tăng 5,6% YoY.
Tổng kim ngạch 7 mặt hàng trên có trị giá đạt 222,7 tỷ USD, chiếm 69% tỷ trọng xuất khẩu.
Trong kỳ, một số mặt hàng ghi nhận tăng trưởng cao như máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 13,3% YoY, lên mức 4,7 tỷ USD; dây điện và dây cáp điện tăng 25,6% YoY, đạt 3,1 tỷ USD; đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 27,4% YoY, ở mức 5,6 tỷ USD.
Kim loại thường khác và sản phẩm xuất khẩu tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước, lên mức 3,3 tỷ USD; hóa chất tăng 52,7% YoY, đạt 2,3 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 57,5% YoY, đạt 2,1 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 12,6% YoY, ở mức 4,8 tỷ USD.
Ở nhóm năng lượng, trong khi dầu thô xuất khẩu tăng nhẹ 0,5% YoY (đạt 789 triệu USD), trị giá xuất khẩu xăng dầu lại tăng tới 48% YoY, lên mức 817 triệu USD.
Ở nhóm may mặc, Việt Nam xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 10,8% YoY, đạt 1,5 tỷ USD; xơ sợi dệt đạt 2,7 tỷ USD, tăng 11% YoY.
Trong nhóm nông thủy sản, các mặt hàng cũng có sự biến động mạnh. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng 12,7% YoY (đạt 6,8 tỷ USD); rau quả tăng 23,5% YoY, đạt 4,7 tỷ USD. Hạt điều xuất khẩu tăng 3,3% YoY, đạt 2,9 tỷ USD; hạt tiêu tăng 11% YoY, ở mức 1,09 tỷ USD.
Ngược lạI, xuất khẩu gạo của Việt Nam lại giảm 7% so với cùng kỳ năm trước, còn 2,6 tỷ USD; cà phê cũng giảm 11% YoY, đạt 5,4 tỷ USD; chè giảm 3,2% YoY, đạt 117 triệu USD; sắn và sản phẩm từ sắn giảm nhẹ 0,1% YoY, đạt 756 triệu USD.
Nhập khẩu nhóm năng lượng tăng mạnh
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi 340 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 92,14 tỷ USD, tăng 24,1% YoY; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 247,91 tỷ USD, tăng 39,2% YoY.
Về cơ cấu nhóm hàng, nhóm tư liệu sản xuất đạt 319,95 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,9%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 37,2%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 20,1 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Trong kỳ, 40 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu có trị giá trên 1 tỷ USD (chiếm 93% tỷ trọng); riêng 2 mặt hàng đạt kim ngạch từ 10 tỷ USD trở lên, chiếm 52% tỷ trọng.
Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 135,8 tỷ USD, tăng 65,9% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 41 tỷ USD, tăng 22,7% YoY.
Một số mặt hàng nhập khẩu tăng cao như kim loại thường khác tăng 35,3% YoY, lên mức 8,6 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 26% YoY, đạt 5,6 tỷ USD; sản phẩm chất dẻo tăng 17% YoY, đạt 6,9 tỷ USD.
Ô tô nhập khẩu trong kỳ tăng tới 36% so với 7 tháng đầu năm 2025, lên mức 7,9 tỷ USD, bao gồm ô tô nguyên chiếc đạt 3,4 tỷ USD (tăng 30% YoY).
Ở nhóm năng lượng, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng đều tăng mạnh. Cụ thể, trị giá nhập khẩu xăng dầu tăng tới 67% YoY, lên mức 6,9 tỷ USD; dầu thô tăng 17,9% YoY, đạt 5,3 tỷ USD; than đá tăng 30% YoY, ở mức 5,6 tỷ USD.
Quặng và khoáng sản nhập khẩu khác cũng tăng 48,9% YoY, đạt 2,7 tỷ USD; khí đốt hóa lỏng tăng 44% YoY, lên 1,6 tỷ USD; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 67% YoY, đạt 1,7 tỷ USD.
Ở nhóm may mặc, nhóm này có mức tăng trưởng nhẹ hơn với vải +2% YoY, đạt 8,9 tỷ USD; nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 3,6% YoY, đạt 4,3 tỷ USD; sợi dệt tăng 12% YoY, lên mức 1,8 tỷ USD; bông tăng 0,8%, đạt 1,8 tỷ USD.
Ở nhóm nông thủy sản, nhập khẩu ngô tăng tới 47,9% YoY, đạt 2 tỷ USD; lúa mì tăng 52,2% YoY, đạt 1,3 tỷ USD; đậu tương tăng 57% YoY, ở mức 1,09 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu rau quả cũng tăng tới 27,7% so với 7 tháng đầu năm 2025, lên mức 1,8 tỷ USD; hạt điều tăng 9,9% YoY, đạt 3,2 tỷ USD; sữa và sản phẩm sữa tăng 7,3% YoY, đạt 919 triệu USD. Thủy sản nhập khẩu lại giảm nhẹ 1% YoY, còn 1,8 tỷ USD.











