Những động lực thúc đẩy tăng trưởng 12,5% trong quý IV
GDP 9 tháng tăng 9,01%, nhưng để đạt mục tiêu cả năm tăng từ 10% trở lên, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Mức tăng này đặt áp lực rất lớn lên các động lực tăng trưởng trong những tháng cuối năm.
Áp lực ở chặng nước rút
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh - Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê - cho biết, tăng trưởng kinh tế quý III và 9 tháng vừa qua được nâng đỡ bởi ba động lực liên kết chặt chẽ: Đầu tư công tạo thêm khối lượng sản xuất; công nghiệp và xuất khẩu mở rộng đầu ra; tiêu dùng trong nước duy trì nhịp tăng của thương mại và dịch vụ. Cụ thể:
Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt khi tiến độ giải ngân được cải thiện, đặc biệt là ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao, không chỉ trực tiếp thúc đẩy ngành xây dựng mà còn tạo hiệu ứng kéo đầu tư tư nhân.
Khu vực công nghiệp và xây dựng là động lực tăng trưởng quan trọng, với công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò “đầu tàu”, tăng 12,28% trong quý III và 11,36% trong 9 tháng, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung.
Hoạt động xuất khẩu tiếp tục trở thành điểm tựa cho sản xuất trong nước, trong khi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình duy trì xu hướng tăng tích cực, tăng 9,75% trong 9 tháng, đóng góp 6,88 điểm phần trăm vào tăng trưởng.
Sức cầu được cải thiện nhờ thương mại, du lịch, lưu trú, giải trí và sự gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ hiện đại.

Cuối năm, giải ngân đầu tư công thường được đẩy nhanh. Ảnh: Văn Quân.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026, quý IV cần tăng khoảng 12,5%, cao hơn khoảng 4,1 điểm % so với cùng kỳ năm trước. Đây là mục tiêu khó khăn và rất áp lực.
Theo bà Hạnh, một trong những động lực quan trọng là đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Cuối năm thường là thời điểm giải ngân được đẩy nhanh, nhưng vốn chỉ thực sự đóng góp vào GDP quý IV khi nhanh chóng chuyển thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế.
Cùng với đầu tư, sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, cần tiếp tục được duy trì. Trong bối cảnh nhu cầu bên ngoài và chuỗi cung ứng quốc tế còn biến động, cần theo dõi sát đơn hàng, tồn kho và nguồn nguyên liệu của các ngành xuất khẩu chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì công suất và giao hàng đúng tiến độ. Khu vực dịch vụ cũng còn dư địa trong những tháng cuối năm thông qua tiêu dùng, thương mại và du lịch.
Hiệu quả đầu tư mở thêm dư địa
Theo ông Bùi Minh Giáp - chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam không phụ thuộc vào một động lực tăng trưởng đơn lẻ mà đang được thúc đẩy bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Trước hết là ổn định vĩ mô, mức độ mở cửa thương mại cao và khả năng thu hút FDI, trong khi nền tảng sản xuất trong nước tiếp tục được mở rộng. Đầu tư công vẫn còn dư địa, qua đó tạo thêm động lực cho tăng trưởng.
Việt Nam cũng có lợi thế từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, đặc biệt là trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, điện tử, logistics và các ngành xuất khẩu. Mạng lưới các hiệp định thương mại, vị trí gần các trung tâm sản xuất lớn, lực lượng lao động năng động cùng môi trường kinh tế, chính trị ổn định tiếp tục là những lợi thế quan trọng.

Theo chuyên gia, dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực, mà còn ở chất lượng đầu tư. Ảnh minh họa.
Theo ông Giáp, Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu so với các nền kinh tế trong khu vực. Một trong những dư địa lớn là nâng cấp sản xuất công nghiệp. Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng còn khả năng cải thiện các khâu tạo giá trị cao như thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D), logistics, dịch vụ số, quản trị chuỗi cung ứng và xây dựng thương hiệu.
Tuy nhiên, thách thức là Việt Nam vẫn chủ yếu mạnh ở khâu sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu, trong khi những công đoạn tạo ra giá trị cao hơn còn hạn chế. Do đó, doanh nghiệp phải nâng cấp nhanh hơn về công nghệ, quản trị, kỹ năng và tiêu chuẩn để không bỏ lỡ cơ hội. “Cơ hội nếu Việt Nam không nắm bắt thì sẽ có những nơi khác nắm bắt”, ông Giáp nói.

