Những ngành học tưởng chỉ hợp với nam, nữ giới lại có nhiều lợi thế
Nhiều lĩnh vực vốn được mặc định 'dành cho nam giới' nhưng hiện nay không chỉ mở rộng cánh cửa cho nữ giới mà phái nữ còn có lợi thế cạnh tranh rõ rệt.
Định kiến giới vẫn chi phối lựa chọn ngành học của nữ sinh
Trao đổi với PV VietNamNet, PGS.TS Trần Quang Tiến, Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam, cho biết lâu nay nhiều ngành nghề vẫn bị gắn mác “chỉ phù hợp với nam giới”. Định kiến này bắt nguồn từ việc trong thời gian dài, các ngành kỹ thuật, công nghệ hay quản trị cấp cao thường gắn với hình ảnh nam giới, trong khi nữ giới được định hướng vào các lĩnh vực chăm sóc hoặc hỗ trợ.
Những khuôn mẫu này được củng cố qua giáo dục, truyền thông và cả hoạt động hướng nghiệp, khiến không ít nữ sinh tự giới hạn lựa chọn của mình.
Ngoài ra, điều này còn bắt nguồn từ sự thiếu vắng các mẫu hình phụ nữ thành công trong những ngành “phi truyền thống”. Khi không có hình dung cụ thể về con đường phát triển, nhiều nữ sinh có xu hướng chọn phương án an toàn, thay vì mạnh dạn theo đuổi lĩnh vực phù hợp với năng lực và tiềm năng dài hạn.

Hiện nay, nữ giới cũng có thế mạnh trong nhiều ngành nghề. Ảnh minh họa
Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức hiện nay, PGS.TS Trần Quang Tiến nhìn nhận sự khác biệt giới và những định kiến trong lựa chọn ngành nghề đang dần bị xóa nhòa.
Nhiều lĩnh vực từng được mặc định là “của nam giới” thực chất lại đang mở ra cơ hội rất lớn cho nữ giới. Thậm chí ở một số khía cạnh, nữ giới còn thể hiện năng lực cạnh tranh rõ rệt.
Điển hình là ngành công nghệ thông tin, bao gồm các hướng phát triển phần mềm, khoa học dữ liệu hay thiết kế và phát triển game. Ngành này lâu nay thường được nhìn nhận qua lăng kính kỹ thuật, nhưng hiện tại lại mang tính chất liên ngành, đòi hỏi sự kết hợp giữa tư duy công nghệ, mỹ thuật ứng dụng và hiểu biết sâu về hành vi người dùng.
“Thế mạnh của nữ giới là khả năng duy trì độ chính xác, tính kỷ luật, bền bỉ trong quá trình làm việc, đặc biệt ở các lĩnh vực như công nghệ, phân tích dữ liệu hay phát triển sản phẩm số. Đây chính là không gian để nữ giới phát huy thế mạnh trong việc phát triển sản phẩm hướng tới trải nghiệm”, PGS.TS Trần Quang Tiến nói.
Không chỉ công nghệ, nhóm ngành kinh tế - quản trị như quản trị kinh doanh, quản trị thương hiệu số… cũng ghi nhận sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của nữ giới. Theo ông Tiến, ở nhiều môi trường đào tạo, nữ sinh không chỉ chiếm tỷ lệ cao mà còn thể hiện kết quả học tập nổi trội. Bởi lẽ, những lĩnh vực này không chỉ yêu cầu năng lực phân tích mà còn đòi hỏi tư duy chiến lược, khả năng thích ứng toàn cầu và năng lực kết hợp giữa chuyên môn với năng lực số và trí tuệ nhân tạo.
Bên cạnh đó, các ngành như luật, luật kinh tế hay các lĩnh vực liên quan đến chính sách công cũng không còn tình trạng nam giới chiếm ưu thế. “Nữ giới đang thể hiện tốt trong việc phân tích vấn đề, lập luận logic và tiếp cận đa chiều. Đây đều là những yếu tố cốt lõi của nghề luật trong bối cảnh hội nhập”, ông Tiến chia sẻ.
Ông cũng cho rằng các ngành nghề ngày nay không còn xu hướng phân biệt theo giới tính mà đang trở thành lựa chọn chung, nhờ vào những điều chỉnh về phương pháp tiếp cận và nội dung học thuật theo hướng liên ngành, với sự hỗ trợ của công nghệ số, đặc biệt là AI.

Ông Tiến cho rằng việc lựa chọn ngành học cần được tiếp cận một cách khoa học và dài hạn. Ảnh minh họa
Cơ hội mở rộng khi lựa chọn không còn bị giới hạn
Trong bối cảnh thị trường lao động đang biến đổi nhanh dưới tác động của công nghệ và toàn cầu hóa, ông Tiến cho rằng việc lựa chọn ngành học cần được tiếp cận một cách khoa học và dài hạn.
“Các bạn nữ cần nhìn nhận rõ rằng không có ngành nghề nào được xác định bởi giới tính. Những lĩnh vực như công nghệ thông tin, thiết kế và phát triển game, marketing, luật, truyền thông đa phương tiện… đều đang mở ra cơ hội rộng lớn nếu người học có năng lực và sự chuẩn bị phù hợp”, ông nói.
Ngoài ra, người học nên ưu tiên lựa chọn các ngành có định hướng ứng dụng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường, đồng thời tạo điều kiện để người học phát triển toàn diện về kiến thức, kỹ năng và tư duy.
Điều quan trọng nhất, theo ông, người học cần chú trọng xây dựng năng lực cốt lõi, bao gồm tư duy phản biện, kỹ năng số, ngoại ngữ, khả năng làm việc liên ngành và năng lực học tập suốt đời. Đây chính là nền tảng linh hoạt giúp mỗi cá nhân có thể thích ứng với nhiều môi trường nghề nghiệp khác nhau trong tương lai.
“Khi lựa chọn nghề nghiệp được xây dựng trên nền tảng năng lực, giá trị và khát vọng cá nhân, không chỉ cơ hội phát triển được mở rộng mà còn góp phần hình thành một thị trường lao động công bằng, đa dạng và hiệu quả”, PGS.TS Trần Quang Tiến chia sẻ.











