Những thú chơi Tết mang tính truyền thống của người Việt
Với người Việt, Tết Nguyên đán là dịp sum họp và vui chơi, nên ca dao mới có câu Tháng Giêng ăn Tết ở nhà/Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè. Đã ăn Tết, phải có chơi Tết nữa mới trọn vẹn. Trong bài viết này chủ yếu đề cập những thú ăn chơi mang tính truyền thống có từ lâu đời của dân Việt.
"Bốn cột lang, nha cắm để chồng"
Trong du ký Mô tả vương quốc Đàng Ngoài (A description of the Kingdom of Tonqueen) xuất bản năm 1685, Samuel Baron ghi lại những trò tiêu khiển của người dân Đàng Ngoài dịp Tết Nguyên đán gồm ca hát, múa đèn, chọi gà, đi cà kheo, múa võ, xiếc, đá cầu, "người dân còn tổ chức đá bóng (trò vật cầu hoặc đánh phết) và đánh đu trên những cột đu được dựng ở hầu hết các góc phố. Ở mọi nơi đều thấy biểu diễn những trò khéo và những trò ảo thuật để mua vui cho mọi người".
Riêng với trò đánh đu, đã được vua Lê Thánh Tông vịnh thơ Cây đánh đu, có câu "Bốn cột lang, nha cắm để chồng/Ả thì đánh cái, ả còn ngong". Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, thì thả thơ cảnh đánh đu: "Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới/Hai hàng chân ngọc duỗi song song" trong bài thơ Đánh đu.
Trò giải trí này, gây ấn tượng sâu đậm không chỉ với nam thanh nữ tú người Việt dịp Tết, mà người nước ngoài cũng chú ý lắm. William Dampier trong Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 (The Voyage to Tonquin) chép: "Có những người đem dựng những cây đu ở ngoài phố và lấy tiền của những ai muốn lên đánh đu. Những người leo lên cây đu thì đứng thẳng trên một thanh đặt ngang ở phía dưới, hai đầu thanh này buộc thật chắc vào hai chiếc thừng treo lên mà họ dùng hai tay nắm cho thật chắc, rồi họ đánh đu người lên tới một độ cao lạ lùng".

Tranh dân gian thể hiện trò chơi đu quay và bắt chạch trong chum.
Trong Tri thức văn hóa cổ truyền Việt Nam (Connaissance du Vietnam) của Maurice Durand và Pierre Huard xuất bản năm 1954, đã miêu tả trò này chi tiết. Theo đó ba cây tre chôn hơi nghiêng xuống đất, phần ngọn buộc chặt với nhau.
"Giữa hai cọc dựng thêm một xà ngang bằng tre, ở giữa xà treo hai thân tre dài, đầu dưới nối bằng một thanh ngang để đặt chân. Người chơi đứng trên thanh ngang, tay nắm dây, tự đẩy mình đu qua lại. Có thể chơi một người hoặc hai người cùng lúc. Thường thì một đôi nam nữ cùng nhau đu, cặp nào giữ được đu song song với mặt đất thì được xem là thắng cuộc". Cho đến ngày nay, ở nhiều vùng miền, đặc biệt là vùng trung du và nông thôn, các hội làng, hội bản dịp Tết Nguyên đán, trò đánh đu vẫn thu hút đông đảo người chơi, đặc biệt là các nam thanh nữ tú tham gia.

Một số trò chơi dân gian dịp Tết trong sách của Samuel Baron năm 1685.
Với tinh thần thượng võ được truyền từ tổ tiên qua công cuộc dựng nước và giữ nước, trong dịp Tết cổ truyền, nhiều làng quê tổ chức các sới vật cho trai làng thi đấu.
Paul Ory trong Làng xã của người An Nam ở Bắc Kỳ (La commune Annamite au Tonkin) chép, "thi đấu vật, nơi mọi thanh niên trai tráng trong xã đều có thể tham dự. Cuộc thi được tổ chức để nhắc nhở dân chúng rằng sức khỏe thể chất là vô cùng cần thiết nếu người đàn ông muốn trở nên hữu ích cho gia đình, và cần nuôi dưỡng tinh thần này bằng các cuộc thi đấu".
Theo Maurice Durand, các đô vật lên sới thường ở trần, đóng khố, thân hình rắn chắc. Những nghi lễ mang tính tâm linh được các đô vật thực hiện trước cuộc đấu: "Họ thắp hương khấn vái thành hoàng làng, mong được thần linh phù trợ để giành thắng lợi. Khi tiếng trống hội nổi lên, hai đối thủ giáp mặt, lao vào những đòn tay, miếng khóa đầy sức mạnh. Cuộc đấu chỉ kết thúc khi một bên bị vật ngã ngửa xuống đất".
Đấu vật dịp Tết Nguyên đán hoặc hội làng đến nay vẫn còn ở nhiều làng quê, đặc biệt ở khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ với những hội vật làng Triều Khúc, phường Mai Động (Hà Nội), làng Thủ Lễ, làng Sình (Huế)…

Tranh du xuân với các trò chơi đấu vật, bắt chạch trong chum.
Chèo hề mua vui
Tuồng hát cũng là một loại hình giải trí sân khấu được người Việt từ vua quan đến bình dân ưa chuộng thưởng thực trong dịp Tết hưởng nhàn. Jean-Baptiste Tavernier trong Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài (Relation nouvelle et singulìere du Royaume de Tunquin).
"Trong những trò giải trí của người Đàng Ngoài, không có trò nào mà họ thích thú bằng chèo tuồng. Chèo tuồng thường diễn vào ban đêm, những vở nào diễn ngày đầu có trăng là những vở hay nhất. Chèo tuồng diễn từ chập tối đến lúc mặt trời mọc, trong khi diễn có nhiều trang trí và có mấy cảnh làm người xem vui mắt. Diễn viên biết diễn tả biển và sông và những trận thủy chiến bằng tàu thuyền, mặc dù họ chỉ có 8 người, cả đào lẫn kép".
Các công ty nước ngoài làm ăn ở Đàng Ngoài cũng ghi nhận, với vua Lê, chúa Trịnh và quan lại, thú vui dịp Tết là việc xem các tuồng hát. Jérôme Richard trong ghi chép Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài (Histoire naturelle, civile et politique du Tonquin) cũng dành một đoạn để nói về vui chơi dịp Tết của dân gian thời Lê Trung Hưng (1533-1789) với ấn tượng của các vở chèo: "Người ta chỉ nghe thấy ở khắp mọi nơi âm thanh của những nhạc cụ. Người ta dựng những khán đài ở góc phố nơi người ta trình diễn những vở chèo hề mua vui cho giới bình dân".

Vua Lê xem hát tuồng. Tranh trong sách của J.B. Tavernier năm 1679.
Còn nhiều những trò tiêu khiển được chuộng như đánh cờ tướng, phổ biến ở lứa trung niên, người già mà theo GS Đào Duy Anh xem đây là "một lối chơi cao thượng, khiến trí ta phải suy nghĩ nhiều. Cờ hay nhất là cờ tướng dùng 64 con, chia ra làm hai phe, như hai quân đội chiến đấu với nhau. Ngoài ra có thứ cờ vây, những nhà quyền quý hay chơi; còn như cờ gánh, cờ ô, cờ chiếu tướng thì phần nhiều chỉ thông hành ở nhà quê". Thậm chí, có nơi tổ chức cả những cuộc cờ người thu hút đông đảo các tay cờ tham gia.
Tùy vào đặc trưng văn hóa của từng địa phương, mà dịp Tết Nguyên đán, có những loại hình vui chơi phù hợp được kể đến nữa như hát đối, bơi thuyền, thả chim thi và vô số những trò chơi đậm chất văn hóa như bắt chạch trong chum, đầu hồ… kể thực đa dạng.












