Những trang sử hào hùng

80 năm trước, giữa đại ngàn khu vực Đông Nam Bộ, Chiến khu Đ được hình thành và trở thành căn cứ địa cách mạng quan trọng. Nơi đây ghi dấu tinh thần kiên cường, ý chí bất khuất của quân và dân ta suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến, bảo vệ độc lập của Tổ quốc.

Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu 7 thăm nhà truyền thống trưng bày các hiện vật thời kháng chiến trong Chiến khu Đ. Ảnh: Nguyệt Hà

Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu 7 thăm nhà truyền thống trưng bày các hiện vật thời kháng chiến trong Chiến khu Đ. Ảnh: Nguyệt Hà

Ngay từ những ngày đầu gian khó, Chiến khu Đ đã trở thành “điểm tựa” chiến lược, bảo vệ lực lượng cách mạng và nuôi dưỡng khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc. Những con người trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu, viết nên trang sử hào hùng ngày ấy nay không còn, nhưng Chiến khu Đ vẫn mãi là biểu tượng của lòng yêu nước và sự đoàn kết cùng khát vọng độc lập của quân và dân Nam Bộ.

Chiến khu Ð cách mạng

Sau khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chỉ vẻn vẹn 21 ngày sau, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Nam Bộ, mở đầu cuộc xâm lược trở lại Việt Nam lần thứ 2. Nam Bộ thành đồng (có quân - dân Đồng Nai) đã phải làm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bảo vệ độc lập của Tổ quốc trước cả nước hơn một năm.

Theo các tài liệu lịch sử, sau Hiệp định Sơ bộ (ngày 6-3-1946) và Tạm ước (ngày 14-9-1946), đặc biệt là tối hậu thư của thực dân Pháp ngày 18-12-1946, Việt Nam không thể tiếp tục nhân nhượng; quyết tâm không chịu mất nước và đứng lên chống thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp với quyết tâm cao: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Trong đó, việc xây dựng căn cứ địa cách mạng là vấn đề cấp bách. Chiến khu Đ ở vùng Đông Nam Bộ, thuộc địa bàn các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước (Đồng Nai ngày nay), Bình Dương (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) có địa thế hiểm trở, rừng núi bạt ngàn và hệ thống sông ngòi phức tạp đã sớm trở thành căn cứ địa cách mạng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Nam Bộ.

Chiến khu Đ không chỉ là nơi tập trung lực lượng vũ trang mà còn là nơi tổ chức các cuộc tấn công vào thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đồng thời tạo ra một vùng an toàn cho nhân dân và lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động chính trị. Tại đây, lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ cùng nhân dân địa phương phối hợp nhịp nhàng, triển khai các chiến dịch phòng ngự và tấn công hiệu quả, tạo nên những trận đánh mang tính quyết định trên chiến trường Đông Nam Bộ.

Đại tá, PGS.TS Hồ Sơn Đài, nguyên Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 7 cho rằng: Ngay khi mới ra đời cùng vị trí chiến lược quan trọng, Chiến khu Đ đã nhanh chóng trở thành căn cứ địa cách mạng của quân và dân Nam Bộ, được ví như “Việt Bắc của Nam Bộ thành đồng”. Quân và dân Chiến khu Đ đã kiên trì xây dựng, củng cố hệ thống hậu cần vững mạnh, đảm bảo đủ lương thực, vũ khí, thuốc men cho kháng chiến lâu dài. Từ các kho tàng, bệnh viện dã chiến và các tuyến vận chuyển bí mật qua rừng núi, quân và dân ta đã cung cấp hậu cần cho các mặt trận ác liệt tại Nam Bộ. Nhờ đó giúp các lực lượng cách mạng duy trì sức chiến đấu và hoạt động lâu dài trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ.

Từ Căn cứ địa cách mạng Chiến khu Đ, quân và dân ta đã tổ chức nhiều trận đánh lịch sử, để lại nỗi khiếp sợ cho thực dân Pháp và cổ vũ tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân và dân Nam Bộ, Đồng Nai anh hùng.

Trong đó, các trận đánh trên đường số 1, các trận chống càn phá khu căn cứ, đặc biệt là trận phục kích nổi tiếng tại La Ngà ngày 1-3-1948 và trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên (ngày 19-3-1948) đã mở ra nhiều cách đánh sáng tạo của quân và dân Nam Bộ thành đồng cũng như lối đánh mới - đặc công của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.

Chiến khu Đ với sứ mệnh lịch sử của mình được mệnh danh là “Việt Bắc của Nam Bộ”, nơi đứng chân của lực lượng quân sự chủ lực, tổ chức đánh phá các tuyến giao thông, cơ quan và căn cứ quân sự của địch tại Biên Hòa và các vùng lân cận.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng ngời sáng

Tháng 1-1961, Tổng Quân ủy (Quân ủy Trung ương ngày nay) đã ra chỉ thị thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (QGPMNVN), trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Ngày 15-2-1961, tại Chiến khu Đ, QGPMNVN chính thức tuyên bố thành lập.

Theo Thiếu tướng, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Nhiên, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, sự ra đời của QGPMNVN đã khẳng định sự sáng tạo, linh hoạt về tổ chức biên chế, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam, một thành công lớn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ Chiến khu Đ, quân và dân ta đã tổ chức nhiều trận đánh nổi tiếng như: Chiến thắng Sân bay Biên Hòa (ngày 31-10-1964); Chiến thắng Bình Giã (ngày 2-12-1964); trận đánh Lộc Ninh; cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968; Chiến dịch Nguyễn Huệ; trận đánh giải phóng Phước Long, Chơn Thành; Chiến dịch giải phóng Xuân Lộc… Những trận đánh này đã thực sự trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

“QGPMNVN là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, chịu sự chỉ đạo trực tiếp, xuyên suốt của Đảng Lao động Việt Nam, là nòng cốt của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ được xây dựng và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang tự vệ, vũ trang tuyên truyền của các địa phương miền Nam và lực lượng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật quân sự ở miền Bắc bổ sung, tăng cường” - Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên nhấn mạnh.

Cũng theo Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên, ngay sau khi ra đời, QGPMNVN đã xây dựng, phát triển lực lượng, tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong đó, chú trọng phát triển bộ đội chủ lực cả về tổ chức biên chế và vũ khí trang bị. Tùy vào tình hình chiến sự thực tế, biên chế để thay đổi, đáp ứng nhiệm vụ được giao.

“Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã minh chứng cho sự lớn mạnh của QGPMNVN về tổ chức lực lượng; trình độ tổ chức, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến với các quân chủng, binh chủng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam cùng những quyết sách quan trọng của Đảng ta… đều xuất phát khởi nguồn từ Căn cứ địa Chiến khu Đ” - Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên khẳng định.

80 năm đi qua nhưng minh chứng về Chiến khu Đ “Việt Bắc của Nam Bộ thành đồng” vẫn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Để từ đây, đồng bào Nam Bộ, trong đó có quân và dân Đồng Nai sẽ kế thừa xứng đáng truyền thống cách mạng, biểu tượng sáng ngời của Chiến khu Đ anh hùng, quyết tâm đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách, cùng nhau xây dựng Đồng Nai giàu mạnh, văn minh.

Đặc biệt, khi tỉnh Đồng Nai đang hoàn thành những công việc cuối cùng để được công nhận thành phố trực thuộc Trung ương, những bài học quý giá, những truyền thống cách mạng tiếp tục là động lực, cổ vũ, động viên để Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Đồng Nai vững bước xây dựng thành phố Đồng Nai phát triển mạnh mẽ. Truyền thống cách mạng của vùng đất Chiến khu Đ, của “Miền Đông gian lao mà anh dũng”, xây dựng Đồng Nai năng động, phát triển, nghĩa tình, giàu truyền thống cách mạng - điểm đến và là nơi đáng sống của người dân.

Nguyệt Hà

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/chinh-tri/202604/nhung-trang-su-hao-hung-1872be5/