Nợ xấu tăng nhanh, 'bộ đệm' dự phòng chịu sức ép

Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ 'treo' ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng 'bộ đệm' rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.

Nợ xấu tăng, nợ “treo”chất đống

Dữ liệu tổng hợp từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, đến cuối quý II/2026, tổng nợ xấu (nhóm 3-5) đã lên tới 312.108,5 tỷ đồng, lần đầu tiên vượt mốc 300.000 tỷ đồng. So với cuối năm 2025, quy mô nợ xấu tăng 17,5%, tương đương tăng thêm khoảng 46.420 tỷ đồng.

Đáng chú ý, sau khi tăng 10,6% trong quý I/2026, nợ xấu tiếp tục “phình to” trong quý II/2026, cho thấy áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Đáng lo hơn, tốc độ tăng nợ xấu (17,5%) cao hơn đáng kể so với mức tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng (10,4%) trong cùng kỳ so sánh. Điều này phản ánh nợ xấu đang tích tụ nhanh hơn tốc độ mở rộng tín dụng, nhiều ngân hàng tiếp tục chịu áp lực từ các khoản vay quá hạn và sự suy giảm chất lượng tín dụng.

Trong quý II/2026, tổng quy mô nợ xấu nội bảng và nợ nhóm 2 của toàn ngành lần lượt tăng 4% và 15% so với quý trước. Đồ họa tư liệu: VDSC

Trong quý II/2026, tổng quy mô nợ xấu nội bảng và nợ nhóm 2 của toàn ngành lần lượt tăng 4% và 15% so với quý trước. Đồ họa tư liệu: VDSC

Bức tranh nợ xấu tiếp tục xấu trên diện rộng, khi có tới 23/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận nợ xấu tăng so với cuối năm 2025. Xét về tốc độ, có ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng gần 60% chỉ sau nửa đầu năm, đưa quy mô nợ xấu vượt 6.000 tỷ đồng. Xét về quy mô tuyệt đối, có hai ngân hàng có lượng nợ xấu lớn nhất hệ thống, đều vượt mốc 40.000 tỷ đồng.

Đáng chú ý, ngay cả những ngân hàng từng cải thiện chất lượng tài sản trong cùng kỳ năm trước cũng không tránh khỏi xu hướng này, khi nợ xấu đồng loạt gia tăng.

Ở chiều ngược lại, “điểm sáng” ghi nhận tại 4 ngân hàng kéo giảm nợ xấu. Theo đó, VietBank giảm 27% xuống còn 2.240,5 tỷ đồng, NamABank giảm 24,4% còn 3.222 tỷ đồng, SHB giảm 6,2% còn 13.672,1 tỷ đồng và Saigonbank giảm 1,3% còn 640,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức giảm tại các ngân hàng này không đủ bù đắp đà gia tăng của phần lớn nhà băng còn lại, khiến tổng nợ xấu toàn hệ thống tiếp tục lập mặt bằng cao mới, vượt 312.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026.

Không chỉ nợ xấu nội bảng gia tăng, quy mô nợ khó đòi đã xử lý nhưng vẫn “treo” ngoại bảng của nhóm ngân hàng khảo sát cũng đã vượt mốc 1 triệu tỷ đồng vào cuối quý II/2026, cho thấy áp lực thu hồi các khoản nợ tồn đọng vẫn rất lớn.

Trong đó, ba ngân hàng quốc doanh niêm yết đang theo dõi khoảng 585.515 tỷ đồng nợ ngoại bảng, tăng khoảng 6% so với cuối năm 2025; trong khi hai “ông lớn” ngân hàng tư nhân ghi nhận gần 201.788 tỷ đồng, tăng khoảng 11,5%. Việc quy mô nợ ngoại bảng tiếp tục gia tăng cho thấy quá trình xử lý và thu hồi các khoản nợ đã xóa sổ vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt tại các ngân hàng có quy mô tín dụng lớn.

Đề cập đến những khó khăn trong hoạt động thu hồi nợ, trao đổi tại sự kiện công bố kết quả kinh doanh mới đây, bà Lê Hoàng Khánh An - Giám đốc tài chính Ngân hàng VPBank cho rằng, thanh khoản của thị trường bất động sản chậm lại trong thời gian qua, cùng các giải pháp công nghệ khi triển khai chưa đạt kỳ vọng, ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi nợ của ngân hàng. Dù vậy, thu nhập từ hoạt động thu hồi nợ vẫn tăng 10% so với cùng kỳ năm 2025.

Bên cạnh đó, theo đại diện VPBank, thu từ xử lý nợ cũng ghi nhận kết quả tăng trưởng rất tích cực tại FE Credit, đóng góp khoảng 40% tổng thu nhập từ nợ đã xử lý của toàn bộ bức tranh hợp nhất.

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng cho thấy, thu hồi nợ xấu đã xử lý rủi ro trong quý II/2026 các ngân hàng niêm yết đạt hơn 11.400 tỷ đồng, giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ và là quý đầu tiên ghi nhận tăng trưởng âm sau chuỗi nhiều quý tăng mạnh. Theo VDSC, diễn biến này là tín hiệu cho thấy thanh khoản của thị trường bất động sản - kênh xử lý tài sản bảo đảm chủ yếu, đang hạ nhiệt trong bối cảnh lãi suất ở mức cao.

Bài toán mở rộng tín dụng, giữ vững chất lượng tài sản

Giữ vị thế nổi bật trong mảng bán lẻ, VPBank đẩy mạnh cho vay tín chấp trên nền tảng kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và nợ xấu.

Ông Phùng Duy Khương - Giám đốc Khối Khách hàng cá nhân VPBank nhận định, từ sau giai đoạn Covid-19 đến nay, dù kinh tế đối mặt nhiều thách thức, VPBank vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao ở mảng cho vay tín chấp. Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân cho vay tín chấp đạt 15.000 tỷ đồng, tăng 47% so với cùng kỳ, đi cùng với việc kiểm soát tốt chất lượng tín dụng và nợ xấu.

Ưu tiên tăng trưởng có chất lượng

“Chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn không siết tăng trưởng, mà để đảm bảo tăng trưởng một cách có chất lượng hơn. Đương nhiên lợi thế sẽ thuộc về các ngân hàng có nguồn vốn ổn định, có chất lượng tài sản tốt”.

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Khối Tài chính kế hoạch Techcombank

Kết quả này đến từ một số yếu tố, theo phân tích của đại diện VPBank. Thứ nhất, hệ thống quản trị rủi ro và mô hình chấm điểm, phê duyệt tín dụng của VPBank sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, giúp nâng cao độ chính xác trong thẩm định và phê duyệt đối với nhiều phân khúc khách hàng vay tín chấp.

Thứ hai, việc mở rộng hệ sinh thái hợp tác với các đối tác để tạo nguồn khách hàng và hồ sơ vay mới. Với tệp khoảng 16 triệu khách hàng hiện hữu, VPBank có nhiều cơ hội nhận diện những khách hàng chưa từng vay hoặc đang vay nhưng còn dư địa nâng hạn mức, qua đó, vừa thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, vừa góp phần kiểm soát tốt chất lượng nợ.

Tương tự, Techcombank cũng theo đuổi mục tiêu cân bằng giữa mở rộng quy mô tín dụng và kiểm soát chất lượng tài sản.

Theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính kế hoạch Techcombank, trong 6 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng đạt 14,3%, bao gồm cả các khoản giải ngân cho các dự án hạ tầng và nhà ở xã hội.

Nếu loại trừ các khoản này, tăng trưởng tín dụng Techcombank đạt 11,6% và tuân thủ hạn mức tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp từ đầu năm.

Về chất lượng tài sản, bà Thủy cho biết, mặc dù Techcombank duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khá mạnh trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nợ xấu vẫn được giữ ở mức 1,15%. Đồng thời, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 125,5%, tạo bộ đệm dự phòng tốt trước các rủi ro tiềm ẩn. Ngân hàng luôn kiên định với chiến lược tăng trưởng quy mô đi đôi với chất lượng và quản trị rủi ro hiệu quả, nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững.

Áp lực dự phòng gia tăng khi nợ xấu tiếp tục “phình to”

Trong bối cảnh tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết tăng 17,5% so với cuối năm 2025, có tới 22/27 ngân hàng gia tăng trích lập dự phòng rủi ro cho vay nhằm củng cố “bộ đệm” ứng phó với rủi ro tín dụng.

Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ tăng khoảng 11,9%, thấp hơn tốc độ gia tăng của nợ xấu, cho thấy áp lực xử lý nợ vẫn rất lớn.

Trong nhóm có “bộ đệm” dự phòng dày nhất, Vietcombank dẫn đầu với gần 30.000 tỷ đồng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng, tương ứng mức bao phủ đạt 279,3%. Theo sau là BacABank (134,9%), VietinBank (134%), Techcombank (125,6%), ACB (105,3%) và VietABank lần đầu vượt 100%, đạt 100,4%. Điều này cho thấy nhiều ngân hàng vẫn tích cực củng cố dự phòng.

Nhóm phân tích VDSC cho rằng, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong nửa cuối năm 2026 và là rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt tại nhóm ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) dưới 60%.

Theo đó, các biến số cần theo dõi trong các quý tới được VDSC chỉ rõ, đó là tốc độ hình thành nợ nhóm 2 có chững lại hay không khi mặt bằng lãi suất tạo đỉnh; khả năng duy trì nguồn thu hồi nợ ngoại bảng trước diễn biến hạ nhiệt của thanh khoản thị trường bất động sản; cùng tiến độ củng cố bộ đệm dự phòng tại các ngân hàng có lượng nợ xấu hình thành ròng lớn.

Ánh Tuyết

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/no-xau-tang-nhanh-bo-dem-du-phong-chiu-suc-ep-201804-201804.html