Nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng, 'lá chắn' dự phòng tại các ngân hàng phân hóa
Nợ xấu tăng hơn 48.000 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, trong khi khả năng chống chịu rủi ro giữa các ngân hàng lại ngày càng phân hoá.
Nợ xấu tăng gần 48.600 tỷ đồng sau 6 tháng
Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng, tổng dư nợ xấu, gồm nợ nhóm 3, 4 và 5, tại cuối tháng 6/2026 đã tăng 48.573 tỷ đồng so với đầu năm lên 309.586 tỷ đồng. Mức tăng tương ứng 18,6%.
Trong cùng thời gian, tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng từ khoảng 14,16 triệu tỷ đồng lên 15,42 triệu tỷ đồng, tương ứng tăng gần 8,9%. Như vậy, tốc độ tăng nợ xấu cao hơn gấp đôi tốc độ mở rộng tín dụng.
Tỷ lệ nợ xấu bình quân theo đó tăng từ khoảng 1,84% cuối năm ngoái lên 2,01% tại cuối tháng 6, tương ứng tăng khoảng 0,17 điểm %. So với cuối quý I, tỷ lệ này chỉ nhích thêm khoảng 0,01 điểm %, cho thấy tốc độ gia tăng NPL đã chậm hơn trong quý II dù quy mô tuyệt đối tiếp tục đi lên.
Trong 27 ngân hàng được thống kê, 24 nhà băng ghi nhận dư nợ xấu tăng so với đầu năm, trong đó 16 ngân hàng tăng từ hai chữ số trở lên. Chỉ Nam A Bank, VietBank và Saigonbank có quy mô nợ xấu giảm.
ABBank dẫn đầu về tốc độ tăng nợ xấu, từ 997 tỷ đồng cuối năm 2025 lên 1.616 tỷ đồng cuối tháng 6, tăng hơn 62%. Tuy nhiên, tín dụng của ngân hàng đồng thời tăng 18,55%, giúp tỷ lệ nợ xấu tại cuối kỳ vẫn ở mức tương đối thấp, khoảng 1,2%.
TPBank đứng kế tiếp khi nợ xấu tăng gần 59,4%, từ 3.938 tỷ đồng lên 6.278 tỷ đồng. NPL theo đó tăng từ khoảng 1,29% lên 1,86%, tương ứng thêm khoảng 0,57 điểm %.
Tại HDBank, nợ xấu tăng từ 13.320 tỷ đồng lên 18.392 tỷ đồng, tương ứng hơn 38%. Dù tín dụng tăng mạnh 20,61%, NPL vẫn tăng từ khoảng 2,44% lên 2,79%.
PGBank cũng ghi nhận NPL tăng từ 2,36% lên 2,93%, dù đã giảm đáng kể so với mức 4,03% cuối quý I nhờ đẩy mạnh sử dụng dự phòng để xử lý nợ.
Một số ngân hàng khác cũng ghi nhận NPL tăng cao so với đầu năm như OCB từ khoảng 3,19% lên 3,49%, Eximbank từ 2,86% lên 3,08%, BVBank từ khoảng 3,01% lên 3,22%...
Xét về giá trị tuyệt đối, BIDV là nhà băng ghi nhận dư nợ xấu tăng mạnh nhất với tổng nợ nhóm 3-5 tăng từ gần 34.966 tỷ đồng lên 45.719 tỷ đồng, tức tăng hơn 10.700 tỷ đồng sau nửa năm. Tỷ lệ NPL theo đó tăng từ khoảng 1,47% lên 1,83%.
SACOMBANK là một trường hợp đáng chú ý khác với dư nợ xấu tăng từ 40.136 tỷ đồng vào cuối năm 2025 lên 47.957 tỷ đồng cuối tháng 6, tức tăng gần 7.821 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu theo đó tăng mạnh từ 6,41% lên 7,54%, cao nhất trong 27 ngân hàng khảo sát. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh nhà băng tiếp tục rà soát và phân loại lại danh mục tín dụng sau giai đoạn tái cơ cấu.
Trong khi đó, Vietcombank tiếp tục là nhà băng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất trong nhóm ngân hàng niêm yết (0,61%). ACB cũng duy trì vị thế chất lượng tài sản đầu ngành với NPL ở mức 1,03%. Một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp như Techcombank 1,08%, Bac A Bank 1,13%, VietinBank và ABBank cùng khoảng 1,2%...
Nam A Bank ghi nhận nợ xấu giảm từ 4.259 tỷ đồng xuống 3.172 tỷ đồng, tương ứng giảm hơn 25%, trong khi tín dụng vẫn tăng 10,72%. NPL theo đó giảm mạnh từ khoảng 2,16% xuống 1,45%.
VietBank cũng giảm nợ xấu gần 28%, từ 3.070 tỷ đồng xuống 2.201 tỷ đồng, trong bối cảnh tín dụng tăng gần 14%. NPL giảm từ khoảng 2,92% xuống 1,83%...
Bộ đệm dự phòng phân hóa mạnh

Ảnh: M.T.
Trong khi hầu hết ngân hàng ghi nhận dư nợ xấu tăng, diễn biến bộ đệm hấp thụ rủi ro giữa các ngân hàng cũng đang cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR), được tính bằng số dư dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng số dư nợ xấu, là một trong những chỉ tiêu phản ánh “độ dày” bộ đệm dự phòng rủi ro của ngân hàng. Tỷ lệ càng cao cho thấy nguồn dự phòng hiện hữu bao phủ tốt so với quy mô nợ xấu.
Tại cuối tháng 6/2026, Vietcombank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về bộ đệm dự phòng với LLR ở mức 279%, tăng từ 259% cùng kỳ năm trước.
Đứng thứ hai là Bac A Bank với LLR 135%, tăng đáng kể so với 108% cùng kỳ năm 2025. VietinBank xếp thứ ba với 134%, song giảm từ mức 159% một năm trước.
Techcombank đứng thứ tư với tỷ lệ bao phủ 126%, giảm nhẹ từ 128%, trong khi ACB xếp thứ năm với 105%, thấp hơn mức 114% cùng kỳ năm trước.
VietABank đứng thứ sáu với tỷ lệ bao phủ 100%, tăng từ 91%. MB đạt 94%, gần như đi ngang so với cùng kỳ. Kienlongbank tăng từ 88% lên 91%, trong khi ABBank giảm mạnh từ 120% xuống 87%. SHB khép lại Top 10 với tỷ lệ 83%, nhích nhẹ so với mức 82% một năm trước.
Xếp hạng tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại 30/6/2026

Tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng. Ảnh: M.T.
So với cùng kỳ năm trước, một số ngân hàng cải thiện đáng kể bộ đệm dự phòng. VietBank tăng từ 48% lên 69%, Nam A Bank từ 53% lên 68%, Bac A Bank từ 108% lên 135%, NCB từ 15% lên 19%, trong khi Vietcombank tăng từ 259% lên 279%.
Ở chiều ngược lại, mức suy giảm đáng chú ý xuất hiện tại ABBank, từ 120% xuống 87%; BIDV từ 100% xuống 76%; TPBank từ 92% xuống 67%; VietinBank từ 159% xuống 134% và Eximbank từ 44% xuống 32%.
Nếu xét nhóm cuối bảng, NCB có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp nhất với 19%, tiếp đến là Eximbank 32%, Saigonbank 36%, BVBank và PGBank cùng 43%, VIB 44%, HDBank 50% và MSB 52%.
Sự chênh lệch này cho thấy dù nợ xấu đang tăng trên diện rộng, khả năng hấp thụ rủi ro của từng ngân hàng phân hóa. Những nhà băng có LLR trên 100% đang sở hữu bộ đệm tương đối dày, trong khi nhóm dưới 50% có dư địa dự phòng mỏng hơn nếu nợ xấu tiếp tục phát sinh.
Áp lực trích lập chưa hạ nhiệt
Diễn biến nửa đầu năm cho thấy áp lực chất lượng tài sản không chỉ đến từ quy mô nợ xấu gia tăng mà còn nằm ở khoảng cách giữa tốc độ tăng tín dụng và khả năng củng cố dự phòng tại từng ngân hàng.
KBSV cho rằng mặt bằng lãi suất cao trong giai đoạn đầu năm có thể tác động bất lợi đến nhóm khách hàng vay theo lãi suất thả nổi và có năng lực tài chính yếu, qua đó gia tăng nguy cơ hình thành nợ xấu mới. Chi phí trích lập vì vậy có thể tiếp tục nhích lên, dù áp lực phần nào được giảm bớt nhờ những thay đổi về pháp lý trong quá trình xử lý nợ.
Bức tranh dự phòng cũng được dự báo phân hóa thay vì tăng đồng loạt. Các ngân hàng có tỷ trọng lớn khoản vay bảo đảm bằng bất động sản có thể chịu sức ép cao hơn nếu chất lượng tài sản suy giảm.
Yuanta Việt Nam cũng lưu ý nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao và bộ đệm dự phòng suy giảm như Eximbank, HDBank, MSB, OCB, SHB, SACOMBANK, TPBank, VIB và VPBank có thể tiếp tục cần gia tăng dự phòng trong những quý tới.
Ngược lại, những ngân hàng duy trì NPL thấp và LLR cao như Vietcombank, VietinBank và ACB có nhiều dư địa hơn trong việc kiểm soát chi phí tín dụng, hoàn nhập dự phòng hoặc ghi nhận thu nhập từ xử lý nợ, qua đó tạo thêm dư địa hỗ trợ lợi nhuận.
Thực tế số liệu nửa đầu năm cũng cho thấy sự phân hóa này khá rõ. Vietcombank có NPL chỉ 0,61% trong khi LLR lên tới 279%; Techcombank có NPL 1,08%, LLR 126%; ACB lần lượt 1,03% và 105%.
Trong khi đó, SACOMBANK có NPL 7,54% nhưng LLR chỉ ở mức 57%; NCB có NPL 6,43% và LLR chỉ 19%; Eximbank có NPL 3,08% trong khi tỷ lệ bao phủ ở mức 32%.
Khoảng cách giữa hai nhóm cho thấy khả năng “phòng thủ” trước rủi ro tín dụng ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng tài sản và nguồn dự phòng tích lũy của từng ngân hàng.
Trong bối cảnh tổng nợ xấu đã tăng gần 48.600 tỷ đồng chỉ sau nửa năm và tăng nhanh hơn đáng kể so với tín dụng, việc duy trì bộ đệm dự phòng đủ lớn nhiều khả năng tiếp tục là một trong những ưu tiên của hệ thống ngân hàng trong những quý còn lại của năm 2026.



