Nối dài hành trình bảo tồn di sản Champa
Hôm qua 18/5, tại Đà Nẵng diễn ra tọa đàm khoa học 'Nhịp cầu di sản - Từ việc thành lập Bảo tàng Henri Parmentier của EFEO Pháp đến sự phát triển của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng'.

Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng và Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã công bố Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026–2028. Ảnh: Trọng Huy
Hơn một thế kỷ trước, những cuộc khảo cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ (École française d'Extrême-Orient; viết tắt EFEO) đã mở ra hành trình nhận diện, lưu giữ và từng bước bảo tồn di sản Champa bằng phương pháp khoa học hiện đại. Từ hành trình ấy, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng ra đời như một “kho ký ức” của nghệ thuật Champa, đồng thời trở thành một trong những thiết chế bảo tồn di sản quan trọng nhất Đông Nam Á.
Sứ mệnh của EFEO trong bảo tồn di sản
Bà Lê Thị Thu Trang, Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng cho rằng, những thành tựu của Viện Viễn Đông Bác Cổ và các học giả người Pháp trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 qua việc tiên phong và đặt nền móng cho công tác bảo tồn gìn giữ các di sản văn hóa Champa để có được một thiết chế văn hóa hơn 100 năm tuổi như Bảo tàng Điêu khắc Chăm. "Hành trình ấy khởi đầu từ một khu vườn tượng do công sứ Charles Lemire khởi xướng vào cuối thế kỷ 19, tiếp nối bằng những nỗ lực bền bỉ của kiến trúc sư, nhà khảo cổ Henri Parmentier và nhiều học giả của Viện trong việc kiến tạo một bảo tàng dành riêng cho nền nghệ thuật này", bà Lê Thị Thu Trang nói.
Theo ông Philippe Le Failler, Trưởng đại diện EFEO tại Hà Nội, ngay từ khi thành lập năm 1900, EFEO đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ di sản trên toàn Đông Dương. Các công trình, đình đền và hiện vật được kiểm kê, đề xuất xếp hạng và sau đó được giám sát bảo dưỡng, trùng tu. Không dừng ở khảo cổ học, EFEO còn xây dựng hệ thống thư viện, bảo tàng, tổ chức khai quật khảo cổ, dập văn bia, đo vẽ kiến trúc và công bố các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa khu vực.
Ở đầu thế kỷ 20, khi nhận thức về bảo tồn di sản tại Đông Dương còn khá sơ khai, những hoạt động của EFEO đã tạo nền tảng đầu tiên cho ngành khảo cổ và bảo tồn hiện đại tại Việt Nam. Nếu không có những hồ sơ khảo cứu đầu tiên của EFEO, không ít công trình Champa có thể đã biến mất trong sự tàn phá của thời gian và chiến tranh. Trong hành trình ấy, Henri Parmentier là nhân vật có dấu ấn sâu đậm nhất.
Bà Isabelle Poujol, phụ trách Kho ảnh và truyền thông tại EFEO Paris cho biết, khi sang Đông Dương năm 1900, Henri Parmentier được giao nhiệm vụ kiểm kê và bảo vệ các di tích Chăm. Trong quá trình trùng tu cụm tháp Po Nagar năm 1908, ông đã viết một báo cáo dài như một lời kêu gọi thành lập bảo tàng nghệ thuật Chăm nhằm cứu vớt các tác phẩm điêu khắc đang bị phân tán và xuống cấp.
Phải mất tới 17 năm vận động và tìm kiếm kinh phí, kế hoạch ấy mới thành hiện thực. Năm 1919, bảo tàng chính thức mở cửa. Đến năm 1935, sau các phát hiện khảo cổ lớn tại Trà Kiệu và tháp Mắm, bảo tàng tiếp tục được mở rộng. Một năm sau, nơi đây được đổi tên thành Bảo tàng Henri Parmentier.
Không chỉ là một công trình lưu giữ cổ vật, trong tư duy của Henri Parmentier, bảo tàng chính là “công cụ để hiểu rõ nền văn minh Champa”. Chính cách tiếp cận này đã biến Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng thành trung tâm nghiên cứu nghệ thuật Chăm quan trọng bậc nhất thế giới cho đến hôm nay.

Sinh viên tham quan không gian trưng bày chuyên đề “Từ khu vườn tượng Tourane đến Bảo tàng Henri Parmentier”. Ảnh: Q.N
Hợp tác để bảo tồn
Ông Bertrand Porte, chuyên gia phục chế tượng tại EFEO cho biết, từ đầu những năm 2000, trong quá trình mở rộng Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, một dự án hợp tác giữa bảo tàng, EFEO, Bảo tàng Guimet và Bảo tàng Quốc gia Campuchia đã được triển khai với sự tài trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội. Mục tiêu của dự án không chỉ là thiết kế các không gian trưng bày mới mà còn tập trung vào công tác bảo tồn, phục chế các bộ sưu tập điêu khắc sa thạch Chăm.
Theo đó, nhiều tác phẩm đã không được chú ý kể từ những ngày đầu thành lập bảo tàng. Những can thiệp ban đầu còn khá đơn giản trước khi một xưởng phục chế chuyên nghiệp được xây dựng tại khu mở rộng mới của bảo tàng. Giai đoạn 2001 - 2010 đánh dấu nhiều cuộc di chuyển, phục chế lớn đối với các hiện vật Mỹ Sơn và Đồng Dương. Đây là công việc đặc biệt khó khăn bởi sa thạch Chăm rất dễ tổn thương trước khí hậu nhiệt đới ẩm và sự phong hóa.
Nhưng cũng từ quá trình ấy, năng lực bảo tồn hiện vật tại chỗ của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng từng bước được nâng lên. Những pho tượng từng phủ đầy bụi thời gian không chỉ được “cứu chữa”, mà còn được đặt trở lại trong một không gian trưng bày hiện đại hơn, giúp công chúng tiếp cận di sản bằng góc nhìn sống động hơn.
Bà Lê Thị Thu Trang cho rằng, những năm gần đây, cùng xu hướng tiếp cận mới của công tác quản lý di sản và bảo tàng học, trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị bộ sưu tập tại bảo tàng đang đứng trước nhiều yêu cầu mới. "Từ việc bổ sung, số hóa và kết nối nguồn tư liệu lưu trữ, đổi mới diễn giải trưng bày cho đến tăng cường hợp tác chuyên môn và mở rộng khả năng tiếp cận công chúng. Chính trong bối cảnh ấy, các hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và thực hành chuyên môn giữa bảo tàng và các đối tác chuyên môn trong và ngoài nước".
Do vậy, ngay trong khuôn khổ hội thảo, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng và EFEO công bố tThỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 - 2028 với các định hướng hợp tác giữa hai đơn vị trong thời gian đến, trọng tâm là chuỗi sự kiện kỷ niệm 100 năm khai quật khảo cổ tại Trà Kiệu (1927 - 2027).
Hơn một thế kỷ sau ngày Henri Parmentier nuôi giấc mơ về một bảo tàng nghệ thuật Chăm ở Tourane, “nhịp cầu di sản” giữa EFEO và Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng vẫn đang tiếp tục nối dài.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/noi-dai-hanh-trinh-bao-ton-di-san-champa-3337194.html











