Nối những mắt xích để công nghiệp văn hóa cất cánh
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được lấy ý kiến rộng rãi trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đưa các ngành công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới, đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030.
Điểm đáng chú ý của Dự thảo không chỉ nằm ở các chính sách về tài sản trí tuệ, hạ tầng, nhân lực hay thị trường, mà còn ở cách tiếp cận theo hệ sinh thái và chuỗi giá trị. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt, bởi Việt Nam không thiếu di sản, không thiếu tài năng sáng tạo, không thiếu doanh nghiệp và thị trường; điều còn thiếu là những cơ chế đủ mạnh để các nguồn lực ấy tìm thấy nhau, kết nối với nhau và cùng tạo ra giá trị.

Mỗi sản phẩm công nghiệp văn hóa là kết quả của rất nhiều chủ thể cùng tham gia. Ảnh: L.HOÀNG
Không thiếu nguồn lực, nhưng còn thiếu những mối nối
Nhắc đến công nghiệp văn hóa, chúng ta thường nghĩ đến điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thiết kế, xuất bản, du lịch văn hóa, thủ công mỹ nghệ hay trò chơi điện tử. Nhưng mỗi sản phẩm công nghiệp văn hóa thực chất là kết quả của rất nhiều chủ thể cùng tham gia.
Những con số cho thấy tiềm năng ấy không còn nhỏ. Theo Bộ VHTTDL, năm 2022 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 4,04% GDP. Giai đoạn 2018- 2022, giá trị sản xuất ước đạt khoảng 44 tỷ USD; số cơ sở kinh tế tăng bình quân hơn 7% mỗi năm và đến năm 2022 có trên 70.000 cơ sở. Khu vực này cũng tạo khoảng một triệu việc làm theo một số thống kê của Bộ. Đây đã là một nền tảng thị trường đáng kể.
Nhưng chính các số liệu ấy cũng cho thấy một nghịch lý. Nếu đã có hàng chục nghìn cơ sở kinh tế, hàng triệu lao động trực tiếp và gián tiếp, nguồn di sản phong phú và thị trường gần 100 triệu dân, tại sao chúng ta vẫn chưa có nhiều sản phẩm văn hóa đủ sức tạo nên những chuỗi giá trị lớn và thương hiệu toàn cầu? Một nguyên nhân quan trọng là các mắt xích của hệ sinh thái vẫn chưa kết nối chặt chẽ. Một nghệ nhân có thể tạo ra sản phẩm rất đẹp nhưng không biết cách chuyển hoa văn truyền thống thành thiết kế có thể đăng ký quyền, xây dựng thương hiệu và nhân rộng trên thị trường. Một trường nghệ thuật có thể đào tạo người sáng tạo nhưng vẫn còn khoảng cách với doanh nghiệp, công nghệ và nhu cầu thị trường…
Việc Bộ VHTTDL trong năm 2026 xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của công nghiệp văn hóa cũng cho thấy dữ liệu - một hạ tầng cơ bản của hệ sinh thái - vẫn đang được hoàn thiện. Khi chưa đo đầy đủ quy mô thị trường, doanh thu, lao động, hạ tầng và dòng chảy tài sản trí tuệ, việc thiết kế chính sách khó có thể thật sự chính xác.
Vì vậy, điểm nghẽn lớn của công nghiệp văn hóa Việt Nam không chỉ nằm trong từng ngành riêng lẻ mà nằm ở khoảng trống giữa các ngành, giữa sáng tạo và kinh doanh, giữa di sản và công nghệ, giữa tài sản trí tuệ và vốn, giữa sản phẩm với thị trường. Chính những khoảng trống đó làm cho nhiều giá trị văn hóa mới dừng ở dạng “tiềm năng”, chưa chuyển hóa thành tài sản, doanh nghiệp, việc làm và nguồn thu.
Khi những mắt xích tìm thấy nhau giá trị có thể tăng
Theo tôi, giá trị lớn nhất của tư duy hệ sinh thái trong Dự thảo Luật là chuyển trọng tâm từ hỗ trợ từng chủ thể riêng lẻ sang tạo điều kiện cho sự liên kết. Dự thảo xác định chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa gồm các công đoạn sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, phổ biến, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng và tái đầu tư. Cách tiếp cận này đúng với bản chất của công nghiệp văn hóa: Giá trị không chỉ được tạo ra ở khâu sáng tạo ban đầu mà tăng dần khi sản phẩm đi qua các mắt xích và tiếp tục được khai thác.
Có thể nhìn điều này rất rõ từ điện ảnh. Một bộ phim thành công không chỉ tạo doanh thu phòng vé. Nếu quyền sở hữu trí tuệ được quản lý tốt, bộ phim có thể tiếp tục tạo doanh thu từ phát hành trên nền tảng số, truyền hình, nhạc phim, cấp quyền hình ảnh, sản phẩm lưu niệm, du lịch theo bối cảnh phim, chuyển thể hoặc hợp tác quốc tế. Khi một câu chuyện được quản trị như một tài sản trí tuệ, vòng đời kinh tế của nó dài hơn rất nhiều so với thời gian chiếu tại rạp.
Hà Nội là một ví dụ đáng chú ý. Thành phố đã xác định mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 5% GRDP và nhiều năm qua phát triển các hoạt động như Lễ hội Thiết kế Sáng tạo, không gian sáng tạo, kinh tế đêm, du lịch di sản và mạng lưới Thành phố Sáng tạo của UNESCO. Năm 2025, Hà Nội đón hơn 33,7 triệu lượt khách, trong đó khoảng 7,8 triệu lượt khách quốc tế. Không phải toàn bộ doanh thu du lịch là công nghiệp văn hóa, nhưng quy mô dòng khách ấy cho thấy nếu di sản, thiết kế, nghệ thuật, ẩm thực, thủ công, biểu diễn và kinh tế đêm được kết nối tốt, thị trường cho sản phẩm văn hóa là rất lớn.
Ở quy mô toàn cầu, UNESCO ước tính các ngành văn hóa và sáng tạo đóng góp khoảng 3,1% GDP và 6,2% việc làm thế giới. Điều đó cho thấy đây là một phần quan trọng của nền kinh tế hiện đại, với đặc trưng là tài sản vô hình lớn, rủi ro sáng tạo cao và sự phụ thuộc mạnh vào khả năng kết nối tài năng, vốn, công nghệ và thị trường.
Vì thế, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tạo ra ít nhất năm mối nối quan trọng: Người sáng tạo với doanh nghiệp; tài sản trí tuệ với nguồn vốn; văn hóa với công nghệ; sản phẩm với thị trường; trung ương với địa phương và quốc tế. Nếu năm mối nối này vận hành được, nguồn lực văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn có thể liên tục được tái tạo thành giá trị mới.
Kiến tạo hệ sinh thái, không dựng thêm một tầng “xin - cho”
Điều cần đặc biệt lưu ý là xây dựng hệ sinh thái không đồng nghĩa với việc Nhà nước phải tự xây mọi nền tảng, lập thật nhiều quỹ, khu, cụm hay tổ chức trung gian. Một hệ sinh thái không thể hình thành chỉ bằng quyết định hành chính. Nó chỉ sống khi có dòng chảy thực sự của ý tưởng, tài năng, vốn, dữ liệu, công nghệ, sản phẩm và công chúng.
Bởi vậy, Luật phải xác định thật rõ vai trò của Nhà nước. Nhà nước không làm thay thị trường, không lựa chọn thay công chúng và không hành chính hóa sáng tạo. Nhà nước cần tạo luật chơi minh bạch, bảo vệ quyền, đầu tư cho hạ tầng thiết yếu, chuẩn hóa dữ liệu, hỗ trợ những khâu thị trường chưa tự giải quyết được, chia sẻ một phần rủi ro và bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng cho các chủ thể sáng tạo.
Một ví dụ rất cụ thể là tài sản trí tuệ. Nếu một kịch bản, nhân vật, thiết kế hay thương hiệu có thể được nhận diện, hình thành hồ sơ tin cậy, có thông tin giao dịch tham chiếu và được định giá tốt hơn, doanh nghiệp sáng tạo sẽ có cơ hội tiếp cận vốn thuận lợi hơn. Nhà nước không cần quyết định tác phẩm nào chắc chắn thành công - việc đó thuộc về thị trường. Điều Nhà nước có thể làm là tạo hạ tầng pháp lý và thông tin để nhà đầu tư, ngân hàng và chủ thể quyền đánh giá rủi ro minh bạch hơn. Tương tự, đối với không gian sáng tạo, điều quan trọng không phải có bao nhiêu nơi được gắn biển “khu sáng tạo”, mà là bao nhiêu hoạt động thực sự diễn ra bên trong.
Chính sách hỗ trợ vì vậy cần chuyển mạnh từ tư duy “được công nhận thì được ưu đãi” sang “đáp ứng tiêu chí và tạo ra kết quả thì được hỗ trợ”. Một doanh nghiệp nhận ưu đãi nên được nhìn vào số tài sản trí tuệ tạo ra, việc làm, doanh thu, xuất khẩu, đầu tư nghiên cứu - phát triển hoặc tác động xã hội. Một hạ tầng được hỗ trợ cần được đánh giá bằng tỷ lệ sử dụng, số người sáng tạo và doanh nghiệp tham gia, sản phẩm được hình thành, nguồn lực xã hội huy động được và khả năng kết nối thị trường.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 7% GDP. Từ mức khoảng 4,04% năm 2022 lên 7% không thể chỉ dựa vào tăng ngân sách hay tổ chức thêm sự kiện; tăng trưởng phải đến từ năng suất sáng tạo cao hơn, vòng đời tài sản trí tuệ dài hơn, doanh nghiệp lớn hơn, xuất khẩu nhiều hơn và thị trường trong nước sâu hơn.
Đồng thời, hệ sinh thái phải dành không gian cho những chủ thể nhỏ. Nhiều đổi mới văn hóa bắt đầu từ một studio vài người, một nghệ sĩ độc lập, một nhóm làm game, một nghệ nhân hay một hộ kinh doanh. Nếu mọi chính sách đều đòi hỏi quy mô lớn, hồ sơ phức tạp hoặc phải được công nhận trước, những chủ thể năng động nhất lại có nguy cơ đứng ngoài. Luật tốt phải hạ chi phí gia nhập hệ sinh thái, chứ không dựng thêm cánh cửa hành chính.
Tôi cho rằng thành công của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cuối cùng không nên được đo bằng số lượng cơ chế mới được tạo ra, mà bằng khả năng những mắt xích vốn đang đứng riêng lẻ tìm thấy nhau. Khi nghệ nhân gặp nhà thiết kế; nhà làm phim gặp nhà đầu tư; trường đại học gặp doanh nghiệp; dữ liệu di sản gặp công nghệ; tài sản trí tuệ gặp nguồn vốn; sản phẩm Việt Nam gặp thị trường quốc tế, lúc đó chúng ta mới có một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa thực sự.
Và khi hệ sinh thái ấy vận hành được, di sản không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành cảm hứng cho sáng tạo mới; người nghệ sĩ không chỉ có tác phẩm mà còn có thị trường; doanh nghiệp không chỉ bán sản phẩm mà còn sở hữu tài sản trí tuệ; địa phương không chỉ có tài nguyên văn hóa mà có thêm việc làm, doanh thu và thương hiệu. Đó chính là cách văn hóa từ nguồn lực tinh thần trở thành sức sản xuất mới, đồng thời vẫn tiếp tục nuôi dưỡng bản sắc và sức mạnh mềm của Việt Nam.

