Nông nghiệp hữu cơ: Bứt phá hay tiếp tục 'loay hoay'?

Thị trường nông sản hữu cơ toàn cầu đang chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường...

Thị trường rộng mở, dư địa tăng trưởng lớn

Theo thống kê, quy mô thị trường này đã vượt 135 tỷ Euro và được dự báo sẽ tiếp tục mở rộng nhanh chóng, có thể đạt hơn 1.000 tỷ USD vào năm 2034 với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm lên tới 15,5%.

Tại Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ không còn là mô hình thử nghiệm mà đã được xác định là hướng đi chiến lược. Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 - 2030, lĩnh vực này đã có bước tiến rõ rệt.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, đến nay diện tích sản xuất hữu cơ của cả nước đạt hơn 174.000 ha, tăng 47% so với năm 2016, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích đất nông nghiệp. Việt Nam hiện có khoảng 17.200 chủ thể sản xuất hữu cơ, gần 600 cơ sở chế biến và hơn 60 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu.

Những con số này cho thấy nông nghiệp hữu cơ đang từng bước khẳng định vị thế, đồng thời mang lại giá trị gia tăng cao hơn so với phương thức canh tác truyền thống, có thể cao gấp 1,5–2 lần. Không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn, mô hình này còn góp phần bảo vệ hệ sinh thái, cải thiện độ phì nhiêu của đất và thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn.

Hướng đi nào cho nông nghiệp hữu cơ

Dù tiềm năng lớn, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Việc chưa hình thành được các vùng sản xuất tập trung khiến nguồn cung thiếu ổn định, kéo theo khó khăn trong việc xây dựng chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối chuyên biệt.

Ông Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho rằng, hiện vẫn chưa hình thành được các chuỗi cung ứng chuyên kinh doanh sản phẩm thuần hữu cơ do nguồn cung chưa đủ lớn và chưa ổn định quanh năm. Điều này khiến việc tiêu thụ “phập phù”, khó xây dựng được tệp khách hàng trung thành.

Một rào cản khác đến từ sự thiếu minh bạch và nhầm lẫn trong tiêu chuẩn. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam nhấn mạnh cần phân biệt rõ giữa “sản phẩm đạt tiêu chuẩn hữu cơ” và “sản phẩm sản xuất theo nguyên tắc hữu cơ”. Việc đánh đồng 2 khái niệm này không chỉ gây nhiễu thông tin mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của người tiêu dùng.

Câu chuyện của anh Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Thành Vinh (Nghệ An) là một minh chứng rõ nét. Sau 5 năm chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ và được cấp chứng nhận, sản phẩm của hợp tác xã vẫn chủ yếu tiêu thụ tại các chợ đầu mối với mức giá gần như không khác biệt so với sản phẩm thông thường.

Theo anh Thành, thị trường hiện chưa có “sân chơi” rõ ràng cho sản phẩm hữu cơ, trong khi người tiêu dùng chưa sẵn sàng trả thêm chi phí cho sản phẩm chất lượng cao. Điều này khiến nhiều mô hình hữu cơ dù đạt chuẩn vẫn khó tạo ra hiệu quả kinh tế tương xứng.

Trong khi đó, gia đình ông Nguyễn Văn Luận, thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Bình Phước lại là một trường hợp khác. Để có gần 3 ha hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ châu Âu, gia đình ông đã mất 8 năm chuyển đổi và hoàn thiện quy trình sản xuất. Việc đáp ứng hơn 900 chỉ tiêu phân tích theo tiêu chuẩn châu Âu đòi hỏi sự kiên trì và đầu tư lớn. Đổi lại, sản phẩm hồ tiêu của gia đình hiện có giá bán cao hơn thị trường từ 25–40%, trong khi chi phí sản xuất giảm đáng kể nhờ phương thức canh tác bền vững.

Hai câu chuyện trái chiều cho thấy bức tranh thực tế của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: cơ hội luôn song hành với thách thức, và thành công chỉ đến khi có sự kết nối giữa sản xuất, thị trường và niềm tin.

Bên cạnh đó, chi phí sản xuất cao, yêu cầu kỹ thuật khắt khe và khó khăn trong bảo quản, vận chuyển cũng là những rào cản đáng kể. Bà Vũ Thị Thanh Nga, CEO Vũ An Foods cho biết sản phẩm hữu cơ dễ hư hỏng do không sử dụng chất bảo quản, làm tăng áp lực về logistics.

Đáng lo ngại hơn, tình trạng giả mạo sản phẩm hữu cơ ngày càng tinh vi, gây tổn hại nghiêm trọng đến thị trường. Bà Lại Thị Hương, đại diện Xanhsam Natural & Organic nhận định, niềm tin của người tiêu dùng đối với chứng nhận trong nước đang bị xói mòn sau nhiều vụ việc liên quan đến chất lượng và nhãn mác.

Thị trường toàn cầu đang mở ra cơ hội lớn, nhưng để tận dụng được, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần giải quyết đồng thời ba bài toán then chốt: chuẩn hóa, liên kết và niềm tin.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng cần rà soát lại toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn, định dạng rõ các cấp độ sản xuất để nông nghiệp hữu cơ phát triển dựa trên giá trị thực chất, thay vì chạy theo xu hướng.

Song song với đó, việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về giá trị thực của sản phẩm hữu cơ cũng đóng vai trò quan trọng. Khi niềm tin được củng cố, thị trường sẽ tự điều chỉnh theo hướng tích cực hơn. Trong dài hạn, nông nghiệp hữu cơ không chỉ là một phương thức sản xuất mà còn là chiến lược phát triển bền vững gắn với môi trường, sức khỏe và kinh tế tuần hoàn. Khi các yếu tố từ chính sách, sản xuất đến thị trường được kết nối đồng bộ, nông sản hữu cơ Việt Nam hoàn toàn có thể vươn xa.

Thái Hoàng

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nong-nghiep-huu-co-but-pha-hay-tiep-tuc-loay-hoay-179474.html