Nông sản hàng hóa mở lối giảm nghèo bền vững nơi miền Tây Nghệ An
Từ những cây trồng được phát triển theo hướng hàng hóa đã giúp hàng nghìn hộ dân ở miền Tây Nghệ An có sinh kế lâu dài và từng bước thoát nghèo bền vững.
Cho thu nhập ổn định hằng năm
Những năm qua, nhờ sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành và địa phương trong triển khai các cơ chế hỗ trợ về giống, vốn, khoa học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại, sản xuất nông nghiệp ở khu vực miền Tây Nghệ An đã có nhiều chuyển biến tích cực. Người dân đã từng bước chuyển sang phát triển các vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
Nghệ An hiện có đầy đủ các nhóm cây trồng từ cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp lâu năm, cây dược liệu. Đặc biệt, nhiều sản phẩm đặc trưng của khu vực miền núi đã được tiêu thụ rộng rãi và được khách hàng biết đến như cam, chè gay, chè hoa vàng, gạo Japonica, mía, gừng, dong riềng, bí xanh, chè tuyết shan...
Đằng sau mỗi sản phẩm là câu chuyện về sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân, là những vùng nguyên liệu được hình thành, những chuỗi liên kết tiêu thụ từng bước được xây dựng và hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số có thêm cơ hội vươn lên thoát nghèo ngay trên chính quê hương mình.

Nghệ An luôn quan tâm phát triển các loại cây trồng nông nghiệp
Trong số các cây trồng chủ lực, cây cam khẳng định vị thế mang lại giá trị kinh tế cao cho khu vực miền núi Nghệ An. Việc quy hoạch vùng chuyên canh, áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật và định hướng thị trường tiêu thụ đã giúp nhiều hộ dân mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích trồng cam, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Với năng suất bình quân khoảng 25-30 tấn/ha, mỗi vụ thu hoạch người trồng cam có thể đạt doanh thu từ 400-650 triệu đồng. Không chỉ tiêu thụ quả tươi, nhiều cơ sở còn phát triển các sản phẩm chế biến như nước ép, mứt cam, cam sấy dẻo, rượu cam, tinh dầu vỏ cam..., góp phần kéo dài thời gian bảo quản, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Cùng với cây cam, cây mía tiếp tục giữ vai trò xóa đói, giảm nghèo, được duy trì nhiều năm ở các địa phương. Thời gian gần đây, giá thu mua ổn định và có xu hướng tăng lên nên cây mía trở thành sinh kế lâu dài của hàng nghìn hộ dân vùng cao. Hiện toàn tỉnh có hơn 170 ha mía ép lấy nước, bình quân mỗi héc-ta mang lại doanh thu khoảng 200-250 triệu đồng, mức thu đáng khích lệ đối với sản xuất nông nghiệp ở miền núi, góp phần giảm nghèo bền vững.
Ông Bùi Đức Hồng, Chủ tịch UBND xã Giai Xuân cho biết, địa phương hiện có 1.625 ha đất trồng mía. Từ nhiều năm nay, cây mía luôn được xem là cây xóa đói, giảm nghèo của người dân địa phương. Bà con duy trì ổn định diện tích để cung cấp cho hai nhà máy đường đóng trên địa bàn. Tùy thuộc quy mô sản xuất, hằng năm, mỗi gia đình có nguồn thu bình quân từ 50-200 triệu đồng từ trồng mía.
Không dừng lại ở cây mía, Giai Xuân đang từng bước đa dạng hóa cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập cho người dân. Trong đó, cây dứa được kỳ vọng sẽ trở thành hướng phát triển mới nhờ lợi thế về thị trường tiêu thụ và liên kết với doanh nghiệp chế biến.

Tỉnh Nghệ An đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 mở rộng được 10.000 ha dứa
Theo ông Bùi Đức Hồng, diện tích dứa của địa phương hiện đã đạt hơn 100 ha. Giai đoạn 2026-2030, xã phấn đấu mở rộng lên khoảng 2.000 ha. Theo hợp đồng liên kết đã ký với Công ty Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, lợi nhuận từ cây dứa ước đạt 200-250 triệu đồng/ha, mở ra triển vọng lớn cho sản xuất nông nghiệp địa phương.
Nếu Giai Xuân khai thác lợi thế từ các vùng nguyên liệu quy mô lớn thì tại xã Thông Thụ, người dân lại kiên trì tạo dựng thương hiệu từ một loại cây bản địa có giá trị cao đó là chè hoa vàng. Từ chỗ chỉ khai thác tự nhiên và bán nhỏ lẻ, loại cây này đã được bảo tồn nguồn gen, nhân giống, mở rộng vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến theo hướng hàng hóa, nâng giá trị lên nhiều lần.
Vào mùa thu hoạch, người dân có thể hái từ 2-5 kg hoa mỗi ngày. Giá thu mua hoa tươi dao động từ 180.000-300.000 đồng/kg, trong khi các sản phẩm đã sơ chế, đóng gói có giá từ 5 triệu đồng/kg trở lên. Hiệu quả kinh tế ngày càng cao đã tạo động lực để người dân gìn giữ và phát triển vùng chè quý của địa phương.

Người dân bảo tồn và nhân rộng chè hoa vàng
Ông Bùi Văn Hiền, Bí thư Đảng ủy xã Thông Thụ cho biết, địa phương hiện có khoảng 139 ha chè hoa vàng mọc xen trong rừng sản xuất. Đây là giống cây có giá trị kinh tế cao nên người dân đặc biệt chú trọng bảo tồn và nhân giống. Nhiều hộ gia đình có diện tích lớn đạt thu nhập khoảng 100 triệu đồng mỗi năm. Hiện một số cơ sở chế biến trên địa bàn đã mở rộng thị trường tiêu thụ vào các cửa hàng, siêu thị và nhiều tỉnh, thành phố; sản phẩm chè hoa vàng ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng.
Không chỉ phát huy lợi thế từ cây đặc sản, nhiều địa phương vùng cao còn lựa chọn phát triển các giống lúa chất lượng cao theo chuỗi liên kết. Đây là hướng đi giúp nâng cao giá trị trên cùng đơn vị diện tích, đồng thời tạo đầu ra ổn định cho người dân.
Tại xã Tri Lễ, giống lúa Japonica đã mang lại nguồn thu đáng kể cho nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Với chất lượng gạo thơm, cơm dẻo, vị ngọt tự nhiên, sản phẩm ngày càng được thị trường đánh giá cao. Ông Lô Minh Điệp, Chủ tịch UBND xã Tri Lễ cho biết, địa phương hiện có gần 100 ha sản xuất lúa Japonica với năng suất hơn 52 tạ/ha. Giá gạo bán ra khoảng 26.000 đồng/kg. Tính bình quân, mỗi héc-ta cho doanh thu khoảng 120 triệu đồng mỗi năm từ hai vụ sản xuất.
Để nâng cao giá trị sản phẩm, các hợp tác xã đã liên kết với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng quy trình sản xuất đồng bộ, đầu tư máy xay xát và hệ thống đóng gói hiện đại. Bao bì được thiết kế chuyên nghiệp, có đầy đủ thông tin truy xuất nguồn gốc, giúp gạo Japonica từng bước có mặt tại các cửa hàng nông sản sạch, siêu thị và nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

Gạo thơm Tri Lễ được khách hàng ưa dùng
Từ những vùng cam trĩu quả, những cánh đồng mía bạt ngàn, những đồi chè hoa vàng đẹp mắt đến những cánh đồng lúa trĩu hạt, bức tranh nông nghiệp miền Tây Nghệ An đang cho thấy sự chuyển dịch rõ nét từ sản xuất truyền thống sang phát triển hàng hóa. Mỗi mô hình thành công không chỉ tạo thêm thu nhập cho người dân mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất, tạo nền tảng để khu vực miền núi tiếp tục phát triển theo hướng bền vững.
Đa dạng sản phẩm dược liệu, mở rộng cơ hội làm giàu từ rừng
Không chỉ phát huy hiệu quả từ các loại cây lương thực, cây ăn quả hay cây công nghiệp, miền Tây Nghệ An còn sở hữu một lợi thế đặc biệt đó là nguồn tài nguyên dược liệu phong phú. Đây được xem là "kho báu xanh" đang từng bước được đánh thức thông qua định hướng phát triển vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất và chế biến sâu.
Theo thống kê, Nghệ An hiện có gần 1.600 loài cây làm thuốc, trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu; diện tích trồng dược liệu đạt khoảng 3.000 ha. Nếu như trước đây, người dân vùng cao chủ yếu vào rừng khai thác dược liệu tự nhiên để sử dụng hoặc bán nhỏ lẻ thì nay, tư duy sản xuất đã có nhiều thay đổi. Nhiều hộ dân đã chủ động trồng các loại dược liệu có giá trị, hình thành vùng nguyên liệu ổn định, gắn với hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua. Nguồn thu nhập từ trồng cây dược liệu đạt từ 30 triệu đồng trở lên mỗi năm.

Người dân thu hoạch dây thìa canh trên vùng trồng dược liệu
Những năm qua, tại xã Tam Hợp, Hợp tác xã Nông dược Tĩnh Sáng Đường đã đóng vai trò cầu nối giữa người dân với thị trường, từng bước xây dựng chuỗi sản xuất khép kín, từ hướng dẫn kỹ thuật, phát triển vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Ông Lá Văn Duy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Nông dược Tĩnh Sáng Đường cho biết, hằng năm đơn vị đều cử cán bộ kỹ thuật xuống tận các vùng nguyên liệu để hướng dẫn bà con cách nhân giống, trồng, chăm sóc và thu hoạch đúng quy trình nhằm bảo đảm chất lượng cây dược liệu.
Hiện, hợp tác xã đang phát triển khoảng 12 ha dược liệu với nhiều loại cây như cà gai leo, chè dây, thìa canh, đinh lăng, xạ đen, bách bộ... Sau khi thu hoạch, các sản phẩm được sơ chế, chế biến thành trà, cao dược liệu và nhiều dòng sản phẩm khác trước khi đưa ra thị trường. Bình quân mỗi năm, hợp tác xã tiêu thụ khoảng 50.000 sản phẩm và là một trong những đơn vị đạt tiêu chuẩn GACP đối với vùng trồng dược liệu.
Theo ông Lá Văn Duy, so với nhiều loại cây trồng khác, cây dược liệu có nhiều ưu điểm như không kén đất, có thể tận dụng diện tích dưới tán cây ăn quả, đất vườn hoặc đất rừng sản xuất. Phần lớn là cây lâu năm, chỉ cần trồng một lần nhưng nếu chăm sóc tốt có thể cho thu hoạch liên tục từ 7 đến 10 năm, ít sâu bệnh và không đòi hỏi nhiều công chăm sóc. "Quan trọng hơn cả là đầu ra của nhiều loại dược liệu hiện nay khá ổn định. Người dân chỉ cần duy trì chất lượng sản phẩm thì luôn có khách hàng và các hợp tác xã thu mua, nhờ đó yên tâm đầu tư sản xuất lâu dài", ông Duy chia sẻ.
Từ hiệu quả của mô hình này, nhiều hợp tác xã khác trên địa bàn tỉnh cũng đang từng bước phát triển các vùng nguyên liệu dược liệu theo hướng chuyên nghiệp như Hợp tác xã Dược liệu Phủ Quỳ, Hợp tác xã Dược liệu Nghĩa Đàn, Hợp tác xã Dược liệu Quỳ Hợp hay Công ty Cổ phần Dược liệu Mường Lống.

Nghệ An đã phát triển đa dạng các sản phẩm từ dược liệu
Thực tế cho thấy, khi được chế biến sâu, giá trị của các sản phẩm dược liệu tăng lên nhiều lần so với bán nguyên liệu thô. Thời gian bảo quản kéo dài, phạm vi tiêu thụ cũng được mở rộng ra nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Quan trọng hơn, mô hình liên kết giữa người dân với hợp tác xã và doanh nghiệp tạo nên chuỗi giá trị bền vững, giúp người dân yên tâm sản xuất, từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.
Nhằm tiếp tục khai thác hiệu quả tiềm năng này, tỉnh Nghệ An đã ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; đồng thời đang xây dựng Đề án phát triển dược liệu giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045. Theo định hướng của tỉnh, đến năm 2030 sẽ phát triển khoảng 15.500 ha dược liệu, ưu tiên hình thành các vùng nguyên liệu tập trung dưới tán rừng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO, phát triển hệ thống sản xuất giống, mở rộng các cơ sở chế biến sâu và xây dựng những sản phẩm mang thương hiệu dược liệu Nghệ An có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Hành trình giảm nghèo ở miền Tây Nghệ An hôm nay không còn chỉ được đo bằng những con số về tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm, mà còn được minh chứng bằng những vùng chuyên canh ngày càng mở rộng, những sản phẩm mang thương hiệu địa phương xuất hiện trên các kệ hàng. Sản xuất hàng hóa gắn với lợi thế của từng địa phương là hướng đi đúng đắn nhằm nâng cao giá trị nông sản, tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số.












