Nông sản xuất khẩu 2/9: Gạo thơm giữ giá, tiêu đen Việt Nam quanh 6.000 USD/tấn
Nông sản xuất khẩu ngày 2/9 ổn định ở gạo, hồ tiêu, trong khi cà phê kỳ hạn giảm. Rau quả tiếp tục là điểm sáng với kim ngạch 8 tháng gần 5,9 tỷ USD.
Gạo xuất khẩu duy trì mặt bằng ổn định
Theo mức tham chiếu ngày 2/9, gạo Jasmine của Việt Nam được chào bán khoảng 534 - 538 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm giữ mức 470 - 480 USD/tấn.
Gạo thơm 100% tấm dao động 373 - 377 USD/tấn. Một số nguồn thị trường ghi nhận gạo trắng 5% tấm Việt Nam quanh 438 - 442 USD/tấn.

Theo mức tham chiếu ngày 2/9, gạo Jasmine của Việt Nam được chào bán khoảng 534 - 538 USD/tấn. Ảnh minh họa được tạo với sự hỗ trợ của AI.
So với nhóm gạo thơm, phân khúc gạo trắng tiếp tục chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn từ nguồn cung giá thấp trong khu vực.
Về xuất khẩu, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2026, Việt Nam ước xuất khẩu 6,03 triệu tấn gạo, thu về gần 2,91 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, lượng giảm 5%, còn giá trị giảm 10,7%.
Mặc dù sản lượng xuất khẩu vẫn ở mức cao, diễn biến này cho thấy ngành gạo đang chịu áp lực từ mặt bằng giá bình quân thấp hơn năm trước. Việc giữ được giá ở các phân khúc gạo thơm và chất lượng cao vì thế ngày càng có ý nghĩa đối với giá trị xuất khẩu.
Tiêu đen Việt Nam quanh 6.000 USD/tấn
Theo bảng giá của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, mức tham chiếu gần nhất đối với tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l là 5.990 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 6.050 USD/tấn.
Tiêu trắng Việt Nam ở mức 8.400 USD/tấn.
Ở các thị trường khác, tiêu đen Indonesia khoảng 6.893 USD/tấn; Brazil ASTA 570 ở mức 5.800 USD/tấn; tiêu đen Malaysia khoảng 9.300 USD/tấn.
Như vậy, giá tiêu đen Việt Nam hiện cao hơn Brazil nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Malaysia.
Về thương mại, 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Cà phê kỳ hạn giảm, xuất khẩu vẫn vượt 6 tỷ USD
Giá cà phê trên hai sàn quốc tế đồng loạt giảm trong phiên gần nhất.
Trên sàn London, Robusta kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 1,75%, xuống 3.431 USD/tấn. Hợp đồng tháng 11/2026 giảm 1,93%, còn 3.461 USD/tấn.
Trên sàn New York, Arabica tháng 9/2026 giảm 0,48%, xuống 342,25 US cent/pound; hợp đồng tháng 12/2026 giảm 0,66%, còn 309,45 US cent/pound.
Dù giá kỳ hạn hạ nhiệt, quy mô xuất khẩu cà phê Việt Nam vẫn ở mức cao. Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 1,7 triệu tấn cà phê, thu về hơn 6 tỷ USD, tăng hơn 10% về lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Ghi chú: Giá gạo và hồ tiêu là mức tham chiếu theo từng quy cách; giá cà phê là giá chốt hợp đồng kỳ hạn trên các sàn quốc tế. Các mức giá này không đồng nhất với giá xuất khẩu bình quân trên tờ khai hải quan.
Rau quả tiến sát 5,9 tỷ USD
Rau quả tiếp tục là một trong những nhóm nông sản xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhất. Theo ước tính của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau quả tháng 8 đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu rau quả đạt xấp xỉ 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ. Đây cũng là tháng thứ hai liên tiếp kim ngạch xuất khẩu rau quả vượt 1 tỷ USD.
Sầu riêng tiếp tục đóng góp lớn vào tăng trưởng khi các vùng sản xuất Tây Nguyên bước vào giai đoạn thu hoạch rộ.
Hạt điều đạt 2,9 tỷ USD sau 7 tháng
Hạt điều tiếp tục giữ quy mô xuất khẩu lớn. Theo số liệu Cục Hải quan, trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 412.000 tấn hạt điều, thu về 2,9 tỷ USD. Lượng xuất khẩu giảm nhẹ nhưng trị giá tăng khoảng 3% so với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc và Hoa Kỳ tiếp tục nằm trong nhóm thị trường nhập khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam.
Sắn, chè và nhóm quế - gia vị chờ bộ số liệu mới
Đối với sắn và sản phẩm từ sắn, chè cùng nhóm quế - gia vị, trong ngày 2/9 chưa xuất hiện bộ số liệu 8 tháng đồng nhất đủ để cập nhật cùng mặt bằng với gạo, cà phê và rau quả.
Vì vậy, bản tin không sử dụng số liệu cũ để mô tả thành diễn biến mới trong ngày.
Nhìn chung, thị trường nông sản xuất khẩu ngày 2/9 cho thấy sự phân hóa khá rõ: Gạo và hồ tiêu giữ giá, cà phê kỳ hạn chịu áp lực giảm, trong khi rau quả tiếp tục duy trì tốc độ tăng kim ngạch nổi bật. Xu hướng sau kỳ nghỉ sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào đơn hàng mới, diễn biến giá quốc tế và nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu chủ lực.

