Oan cho rơm lắm… người ơi!
Lúa (Oryza sativa) là một trong những loại cây lương thực chính ở Việt Nam, được trồng nhiều nhất, lâu đời nhất, được giảng dạy - nghiên cứu nhiều nhất trong ngành nông nghiệp. Từ xưa, người nông dân trồng lúa chỉ chú ý nhiều đến năng suất, sản lượng và giá thành hột lúa. Gạo được xem là chính phẩm của cây lúa, được trân trọng, ca tụng, thậm chí tôn thờ.
Các phần còn lại như cám, tấm được gọi là thứ phẩm hoặc phụ phẩm, các phần còn lại của cây lúa là trấu (vỏ lúa), rơm (thân lúa), rạ (gốc và rễ lúa) thì bị nhiều người xem là phế phẩm của lúa, do chúng có giá trị không đáng kể, nhiều khi bị đốt bỏ, hoặc bỏ mặt cho trâu bò ăn. Người nghèo lắm mới tìm cách gom rơm về để dành làm chất đốt hay siêng thì trồng nấm với khối lượng rất ít ỏi.

Rơm được rải bên ruộng rau để giữ ẩm và chống cỏ. Ảnh: N.K
Chính vậy, trong ngôn ngữ của người Việt, có từ “rơm rác” để chỉ giá trị thấp của rơm rạ như rác rến vậy. Do suy nghĩ như vậy, trong dân gian có nhiều ngôn từ phụ họa chữ “rơm rác” như “anh hùng rơm” để chỉ những anh chàng kém tài mà sĩ diện hay chứng tỏ ta đây, kèm theo câu ca: “Anh hùng là anh hùng rơm/Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng!”.
Ngoài đồng, khi lúa chín, rơm được bện lại thành một “thằng bù nhìn rơm” chỉ có nhiệm vụ đứng im, dang tay đuổi chim ăn lúa. Nghĩa bóng của chữ “bù nhìn” để chỉ người có chức vị nhưng không có quyền lực thực sự, chỉ là công cụ điều khiển của người khác, hay chính phủ bị nước ngoài chi phối như chính phủ bù nhìn.
Những đứa hăng máu lửa, hô hào to miệng phong trào, thi đua này nọ, mà năng lực thực chất chẳng bền chắc, lâu dài gì cả thì bị gọi là “đám lửa rơm”, ý chỉ đám này chỉ bùng lên một chút như rơm khô bị đốt cháy rồi nhanh chóng tắt lịm, nguội lạnh. Có người còn khuyên đừng có mà “Ôm rơm rặm bụng”. Lạy lục, van xin ai đó thì phổ biến có câu: “Con cắn rơm, cắn cỏ… xin ông bà…”.
Trong văn hóa, văn chương Việt Nam, rơm là hình ảnh chốn hồn quê, sự lam lũ, tinh thần bình dị, mộc mạc… Trong tác phẩm Lục Vân Tiên nổi tiếng của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng nhắc đến tính chất thấp hèn của rơm: “Gối rơm theo phận gối rơm/Có đâu ở thấp mà chồm lên cao” (câu thứ 525/526, Lục Vân Tiên). Gối rơm là gối bện bằng rơm để kê đầu ngủ của người nghèo. Tuy vậy, rơm lại được làm vòng đội trên đầu làm đồ tang, khi mẹ mất, cụ Đồ Chiểu nhắc Lục Vân Tiên: “Dây rơm, mũ bạc, áo thùng/Cứ theo trong sách Văn công mà làm”. (Câu thứ 171-172).
Gần đây có vài tác phẩm có chữ rơm, như “Mùi rơm rạ” của Đào Quốc Vinh, có những tả chuyện về các khốn khổ thời bao cấp. Nguyễn Ngọc Tư có bài “Rơm rạ xốn xang” với những câu văn đượm buồn về rơm rạ và trẻ con miền quê…
Trong ca dao, nhiều câu thơ khuyết danh, còn dùng rơm để mô tả tâm trạng đau lòng của người con trai đất phương Nam với người con gái khi nàng đi lấy chồng: “Dế kêu dưới đống phân rơm/Nghe em có chốn, bưng cơm (anh) khóc ròng!”. Châu thổ phía Nam là đất của người dân nghèo xứ Ngũ Quảng di cư trong hơn 300 năm qua, nên còn những dấu vết thơ ca có âm hưởng ngôn từ miền Trung, cũng mượn hình rơm rạ ngoài cánh đồng lúa: “Tới mùa rạ rã, rơm khô/Bạn về xứ bạn, biết mô mà tìm?”. Vui vui một chút, liên quan đến chuyện đốt rơm thì có câu ca: “Ngồi buồn đốt một đống rơm/Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào/Khói lên đến tận thiên tào/Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?”.
Nghĩ vậy thì tội và oan cho rơm rạ quá, đành rằng xưa kia, rơm không được coi là hàng hóa, mua bán. Ở cây lúa, hột lúa sau đập ra, xay thành hạt gạo, thu thêm vó cám, ít hạt tấm. Gạo thì người ăn, tấm và cám thì dùng để nuôi gà, nuôi vịt, nuôi cá… Rơm rạ phần lớn để mặc nó tự hủy trên đồng, hoặc cày vùi xuống lớp bùn đất cho vụ mùa năm sau, hoặc để cho trâu bò chăn thả ngoài đồng có cái ăn trên đồng ruộng, có người dân quê siêng năng hơn thì cắt rơm đem về nhà, chất thành từng đống gọi là ụ rơm, hàng ngày rút từng bó ra, dùng dần làm chất đốt, nấu bếp, cho trâu bò ăn dần vào mùa đông tháng giá, hoặc rải trên ruộng rau để giữ ẩm, hoặc để cho nấm rơm mọc lên mà thu hoạch thêm thức ăn.
Một số món ăn dân dã, có sự hiện diện của rơm thêm phần thi vị, ngon miệng. Cá lóc nướng trui ngoài đồng sau mùa gặt, chỉ có nướng bằng rơm mới ngon nhất. Ở xứ Huế, dài theo phương Nam đến xứ Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai), món tré gói lá chuối, bên ngoài bó bằng rơm thành từng khối hình thoi thì người mua thích hơn.
Khoa học dần dần tiến bộ, rơm bắt đầu được chú ý sử dụng nhằm tăng thêm thu nhập cho nhà nông. Rơm được đầu tư nghiên cứu có thể được chế biến thành giấy, bao bì, vật liệu xây dựng, than sinh học và cả phát điện. Tuy rằng hiệu quả kinh tế ứng dụng các sản phẩm từ rơm còn nhiều bàn cãi, cân nhắc, so sánh nhưng cũng thấy nhiều triển vọng.
Năm 1975, nhà sinh thái học nông nghiệp Nhật Bản Masanobu Fukuoka đã xuất bản tác phẩm gây nhiều chú ý “The One-Straw Revolution” (Cuộc cách mạng một cọng rơm). Cuốn sách này, qua 50 năm, vẫn liên tục được tái bản và được dịch ra hơn 20 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt. Masanobu Fukuoka nêu các nguyên tắc và triết lý của khoa học nông nghiệp tự nhiên: làm nông với rơm, trồng lúa trên đồng cạn, từ bỏ hóa chất, không cần cày xới.
Rơm rạ đã thoát khỏi thân phận oan ức “rơm rác”, thậm chí còn lên cao trong biểu tượng chính trị, ngoại giao. Chẳng phải vô cớ mà Hiệp hội các nước Đông Nam Á, đã chọn hình ảnh bó rơm màu vàng làm logo chính thức. Có người nói đó là bó lúa, nhưng thực chất chính là bó rơm. Bó rơm vàng trong vòng tròn đỏ, ở vị trí trung tâm của nền xanh hòa bình - bền vững. Hình bó rơm nằm trang trọng giữa lá cờ ASEAN, mà tất cả cơ quan ngoại giao các nước vùng Đông Nam Á đều treo bên cạnh quốc kỳ của nước mình.
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/oan-cho-rom-lam-nguoi-oi/











