Petronas muốn mở rộng hợp tác LNG và các dự án mới với Việt Nam
Petronas sẵn sàng hỗ trợ nguồn cung LNG cho Việt Nam, đồng thời tìm kiếm cơ hội hợp tác trong phát triển khí, hạ tầng năng lượng và năng lượng tái tạo. Theo lãnh đạo tập đoàn năng lượng Malaysia, nhu cầu tăng trưởng của thị trường đang mở ra dư địa hợp tác, song các bên vẫn đang trao đổi về điều kiện thương mại cụ thể.
Chia sẻ với Mekong ASEAN tại buổi gặp gỡ ngày 20/10, ông Aimy Zairin Mohamed, Trưởng đại diện Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Malaysia (Petronas) tại Việt Nam, cho biết thỏa thuận liên minh chiến lược vừa ký kết với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) tạo cơ sở để hai bên thúc đẩy hợp tác và tăng trưởng trong nhiều không gian hoạt động, ở nhiều lĩnh vực, từ thượng nguồn, hạ nguồn, LNG đến năng lượng tái tạo.
“Đây cũng là một phần trong thỏa thuận liên minh chiến lược. Chúng tôi đang tích cực khai phá các điều kiện phù hợp nhất để hiện thực hóa việc hợp tác”, ông nói.

Aimy Zairin Mohamed, Trưởng đại diện Petronas tại Việt Nam. Ảnh: Petronas.
Petronas đã hoạt động tại Việt Nam từ năm 1991, tập đoàn hiện tham gia các hoạt động dầu khí tại một số lô ngoài khơi, đồng thời hợp tác với Petrovietnam trong khai thác và cung ứng khí. Ngày 16/10, hai doanh nghiệp ký thỏa thuận liên minh chiến lược, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực thượng nguồn, khí và LNG, hạ nguồn cùng năng lượng phát thải thấp.
Ông Aimy cho biết tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa và mức sống cải thiện sẽ tiếp tục thúc đẩy nhu cầu năng lượng. Việt Nam là thị trường có tiềm năng, trong đó cơ hội không chỉ nằm ở nguồn khí nội địa mà còn ở LNG và hạ tầng phục vụ chuỗi cung ứng.
LNG - mở rộng dư địa nguồn cung
Ông Aimy cho biết Petronas và phía Việt Nam đang trao đổi về những điều kiện cụ thể, trong đó có sản lượng cung ứng. Công ty này chưa công bố khối lượng LNG dự kiến cung cấp cho thị trường Việt Nam do vẫn đang trong quá trình thương thảo để có thể ứng phó được với nhiều tình huống và kịch bản trong hệ sinh thái LNG của Việt Nam.
“Chúng tôi nhìn thấy cơ hội trong phát triển nguồn tài nguyên trong nước, hạ tầng khí, LNG, cũng như việc đưa công nghệ và kinh nghiệm vào thị trường”, ông Aimy Zairin Mohamed nói.
Động thái này diễn ra khi Việt Nam tìm cách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng để đáp ứng nhu cầu điện tăng, trong khi nguồn khí nội địa chịu sức ép và đang từng bước hình thành thị trường LNG nhập khẩu.
Với các tập đoàn quốc tế, thị trường mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khí, từ khai thác, nhập khẩu LNG đến phát triển hạ tầng và các dự án điện khí. Cuối năm ngoái, PVGAS đã ký hợp đồng LNG dài hạn đầu tiên với Shell, dự kiến cung cấp khoảng 400.000 tấn mỗi năm trong giai đoạn 2027-2031. Tháng 8, Reuters dẫn một tài liệu cho biết PVGas cũng đang tìm kiếm cơ hội cho một hợp đồng dài hạn tiếp theo. Hiện Petronas mới chỉ tham gia ở mảng khai thác khi thượng nguồn và cung cấp khí LNG cho Việt Nam qua những hợp đồng giao ngay.
“Khi là đối tác dài hạn, chúng ta có thể bảo đảm sự ổn định về nguồn cung, đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng và kiểm soát giá trong một khoảng nhất định. So với các hợp tác ngắn hạn, biến động giá sẽ khó dự đoán hơn. Hợp tác dài hạn giúp tạo cơ sở dự báo giá, hỗ trợ chính phủ xây dựng các chính sách và quy định phù hợp để giữ giá năng lượng ở mức hợp lý”, vị lãnh đạo Petronas tại Việt Nam kỳ vọng.
Với bên mua như PVGas, hợp đồng dài hạn có thể giúp chủ động kế hoạch cung ứng, với nhà cung cấp, đây là cơ hội xây dựng quan hệ thương mại ổn định hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của các hợp đồng còn phụ thuộc vào công thức giá, sản lượng cam kết và khả năng tiêu thụ thực tế. Giá LNG trên thị trường quốc tế có thể biến động, trong khi các nhà máy điện cần bảo đảm khả năng vận hành và thu hồi chi phí.
Thực tế, hợp đồng dài hạn không loại bỏ hoàn toàn rủi ro giá. Khi giá giao ngay giảm hoặc nhu cầu tiêu thụ thấp hơn dự kiến, bên mua vẫn có thể phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Bài toán đầu tư phía sau nhu cầu tăng
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt ra định hướng phát triển nguồn điện khí sử dụng LNG nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu điện trong những năm tới. Tuy nhiên, từ mục tiêu quy hoạch đến vận hành thương mại vẫn còn nhiều bước, bao gồm huy động vốn, xây dựng nhà máy, hoàn thiện hạ tầng và bảo đảm nguồn nhiên liệu.
Các dự án điện khí cần vốn lớn và thời gian triển khai dài. Nếu nhà máy chậm tiến độ, công suất nhập khẩu LNG có thể chưa được khai thác hiệu quả. Ngược lại, khi nhà máy đi vào vận hành, nhà đầu tư vẫn phải đối mặt với bài toán giá nhiên liệu và khả năng thu hồi chi phí từ bán điện.
LNG cũng phải cạnh tranh, đặc biệt là về giá, với các nguồn điện khác, trong đó có điện gió và điện mặt trời. Mức độ sử dụng điện khí trong tương lai sẽ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng nhu cầu, khả năng phát triển lưới điện, yêu cầu bảo đảm ổn định hệ thống.

Đại diện Petronas tại Việt Nam chia sẻ về tiềm năng hợp tác. Ảnh: BTC.
Bên cạnh LNG, Petronas cho biết đang quan tâm đến hợp tác về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), cũng như sáng kiến kết nối điện tái tạo giữa Việt Nam, Malaysia và Singapore. Ông Aimy chia sẻ thỏa thuận mua bán khí tại Khu vực Thỏa thuận Thương mại PM3 (PM3 CAA) giữa hai nước vừa được gia hạn thêm 20 năm, từ năm 2028 đến hết năm 2047.
Theo ông Aimy Zirin Mohamed, việc gia hạn thỏa thuận giúp hai bên có thêm thời gian thăm dò, phát triển nguồn hydrocarbon, đồng thời nghiên cứu ứng dụng công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) để xử lý lượng CO₂ phát sinh, qua đó tối ưu hóa sản lượng khai thác khí.
Trong lĩnh vực CCS, tập đoàn Malaysia cho biết sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Petrovietnam. Sáng kiến kết nối điện tái tạo cũng cần thêm các điều kiện về hạ tầng truyền tải xuyên biên giới và cơ chế mua bán điện.
Theo ông Aimy, hệ thống năng lượng cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu an ninh nguồn cung, chi phí hợp lý và tính bền vững. Đây cũng là những vấn đề Việt Nam đang cân đối khi lựa chọn cơ cấu nguồn điện và phát triển các dự án năng lượng mới.



