Petrovietnam đề xuất 3 trụ cột phối hợp với ngành ngoại giao nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia
Ngày 4/8, tại Phiên toàn thể trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường đề xuất 3 trụ cột phối hợp trọng tâm với ngành ngoại giao trong đa dạng hóa nguồn nhập khẩu năng lượng, thúc đẩy phát triển năng lượng mới/năng lượng xanh và xây dựng hệ thống dự trữ năng lượng chiến lược.

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường trình bày tham luận tại Phiên toàn thể trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33.
Trong bài tham luận với chủ đề "Bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh địa chính trị phức tạp hiện nay: Vai trò, đóng góp của ngành ngoại giao và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp”, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Lê Mạnh Cường cho biết, thế giới đang chứng kiến những biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo, năng lượng đã trở thành vấn đề chiến lược, gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và an ninh quốc gia của mỗi đất nước.
Trong bối cảnh đó, công tác đối ngoại không chỉ góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập môi trường thuận lợi, kết nối nguồn lực, công nghệ, tài chính và thị trường, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
“Là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong ngành công nghiệp - năng lượng, Petrovietnam nhận thức sâu sắc rằng bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà còn là trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thực tiễn hoạt động của Petrovietnam cũng cho thấy, mỗi bước phát triển của ngành đều gắn liền với sự đồng hành, mở đường của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và hợp tác quốc tế”, Tổng Giám đốc Petrovietnam nhấn mạnh.
Trên cơ sở đó, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường đề xuất 3 nội dung trọng tâm, gồm: nhập khẩu năng lượng sơ cấp; xuất khẩu năng lượng mới/xanh; dự trữ năng lượng chiến lược quốc gia.

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn - Liên doanh giữa Petrovietnam và các đối tác Kuwait, Nhật Bản.
Về nhập khẩu năng lượng sơ cấp, Tổng Giám đốc Petrovietnam cho biết, trong những năm qua, Petrovietnam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về khoa học công nghệ, quản trị mỏ, đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng và đưa các mỏ mới vào khai thác nhằm hạn chế đà suy giảm tự nhiên của các mỏ dầu khí hiện hữu. Với sự hỗ trợ của Chính phủ, các bộ/ngành, năm 2025 đã ghi dấu một cột mốc quan trọng khi sau 11 năm liên tục suy giảm, sản lượng khai thác dầu thô trong nước đã tăng trưởng trở lại.
Đây là kết quả rất đáng khích lệ, song cũng cần nhìn nhận khách quan rằng nguồn dầu khí trong nước hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 35-40% nhu cầu của các nhà máy lọc dầu và nền kinh tế. Như vậy, khoảng 60-65% nhu cầu dầu thô trong nước vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài. Xung đột tại Trung Đông đã khiến Petrovietnam có những thời điểm không thể nhập khẩu được dầu từ khu vực này. Trong khi đó, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn thuộc Công ty TNHH Lọc hóa Dầu Nghi Sơn - NSRP (Liên doanh giữa Petrovietnam và các đối tác Kuwait, Nhật Bản) sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào nhập hoàn toàn từ Trung Đông.
Nhờ sự vào cuộc kịp thời của Chính phủ, sự đồng hành của Bộ Ngoại giao, Petrovietnam đã mở rộng kết nối và có được nguồn cung thay thế từ châu Mỹ, châu Phi,… bảo đảm hoạt động của NSRP không bị gián đoạn, vận hành trên 100% công suất. Điều này giúp Việt Nam không bị ảnh hưởng nặng nề như một số quốc gia khác tại khu vực Đông Nam Á bị khủng hoảng về năng lượng.
Trong những năm tới, dự báo Việt Nam vẫn phải tiếp tục nhập khẩu dầu thô, LNG và các nhiên liệu chiến lược để bảo đảm sản xuất, đặc biệt phục vụ phát triển điện khí theo Quy hoạch điện VIII. Bên cạnh đó, Petrovietnam được Chính phủ giao phát triển nguồn điện hạt nhân, đây cũng chính là nguồn nhập khẩu sơ cấp cần tính đến.
Trên cơ sở đó, Tổng Giám đốc Petrovietnam nhận định, đa dạng hóa nguồn cung năng lượng từ bên ngoài không còn là hoạt động thương mại đơn thuần mà trở thành yêu cầu chiến lược trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Với một số loại hình năng lượng như LNG, khí thiên nhiên nhập khẩu, điện hạt nhân…, yêu cầu về công nghệ, đào tạo, kinh nghiệm quản lý và đặc biệt là các cam kết giữa hai chính phủ (G2G) là cầu nối quan trọng để Petrovietnam có thể triển khai một số dự án dài hơi, với sự bảo đảm của quốc gia đối tác cũng như từ các cơ quan bản địa có liên quan.
Tuy nhiên, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ dừng ở việc đa dạng hóa nguồn cung từ bên ngoài. Theo Tổng Giám đốc Petrovietnam, Việt Nam cũng cần từng bước hình thành các nguồn năng lượng mới có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào thị trường khu vực.

Lãnh đạo Petrovietnam và Petronas trao đổi đẩy mạnh hợp tác, mở rộng không gian tăng trưởng chiến lược.
Về xuất khẩu năng lượng mới/xanh, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường đề cập tới một lợi thế rất lớn của Việt Nam là điện gió ngoài khơi. Với đường bờ biển dài, điều kiện tự nhiên thuận lợi và hạ tầng dầu khí ngoài khơi đã được hình thành trong nhiều thập kỷ, Việt Nam có tiềm năng phát triển một ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi quy mô lớn.
"Việt Nam có lợi thế lớn về điện gió ngoài khơi và hoàn toàn có khả năng trở thành trung tâm xuất khẩu điện gió của khu vực Đông Nam Á. Việc phát triển lĩnh vực này không chỉ phụ thuộc vào cơ chế, chính sách trong nước mà còn liên quan đến hợp tác với nhiều quốc gia, do đó, vai trò của ngoại giao có ý nghĩa quyết định", ông Lê Mạnh Cường phân tích.
Về dự trữ năng lượng chiến lược quốc gia, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường nhìn nhận, những biến động địa chính trị và khủng hoảng năng lượng toàn cầu trong thời gian qua đã cho thấy một bài học quan trọng: không quốc gia nào có thể bảo đảm an ninh năng lượng nếu không có năng lực dự trữ chiến lược đủ mạnh.
Đối với Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng nhập khẩu ngày càng tăng, việc sớm hình thành hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia đối với dầu thô, LNG và các nhiên liệu chiến lược cần được xem là một cấu phần quan trọng của hạ tầng an ninh năng lượng. Đây không chỉ là giải pháp ứng phó với những biến động của thị trường quốc tế mà còn là “lá chắn” giúp nền kinh tế chủ động trước các rủi ro địa chính trị, thiên tai, đứt gãy chuỗi cung ứng và các tình huống khẩn cấp khác.
Petrovietnam có đầy đủ hệ thống kho cảng, đường ống, kho chứa, nguồn nhân lực có kinh nghiệm và hạ tầng năng lượng. Tập đoàn sẵn sàng phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, đầu tư và từng bước hình thành hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia theo quy hoạch của Nhà nước. Đồng thời, sự hỗ trợ của ngành ngoại giao trong việc kết nối nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế để triển khai hiệu quả nhiệm vụ chiến lược này có vai trò rất quan trọng.
“Với vai trò quan trọng của ngành ngoại giao trong xây dựng các cơ chế hợp tác Chính phủ với Chính phủ (G2G), chúng ta có thể thuyết phục các quốc gia đối tác để có thể đầu tư dự án kho lưu trữ dầu thô và các sản phẩm chế biến tàng trữ tại Việt Nam. Và các đối tác có thể triển khai các hoạt động kinh doanh quốc tế tại kho dự trữ này. Điều này sẽ giúp cho Chính phủ, doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều nguồn lực cho phát triển đất nước”, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường đề xuất.

Đại diện PV GAS - đơn vị thành viên của Petrovietnam, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh và đối tác quốc tế Nebula Energy ký thỏa thuận hợp tác nghiên cứu đầu tư Trung tâm dữ liệu tại Khu kinh tế Vũng Áng, khai thác nguồn nhiệt lạnh từ quá trình tái hóa LNG để phục vụ vận hành trung tâm dữ liệu.
Từ thực tiễn hoạt động của Petrovietnam, lãnh đạo Tập đoàn cũng đề xuất 3 nhóm kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa ngành ngoại giao với các bộ, ngành và doanh nghiệp trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ nhất, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của ngoại giao năng lượng trong mở đường và kiến tạo không gian hợp tác mới. Lãnh đạo Petrovietnam đề nghị Bộ Ngoại giao tiếp tục đưa hợp tác năng lượng trở thành một nội dung trọng tâm của ngoại giao kinh tế; chủ động thúc đẩy các khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương và các cơ chế hợp tác G2G trong các lĩnh vực dầu khí, LNG, điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân và các nguồn năng lượng mới. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc kết nối đối tác, công nghệ, nguồn vốn và thị trường, góp phần bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định và mở rộng không gian phát triển cho đất nước.
Thứ hai, tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin chiến lược và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các biến động quốc tế. Trong bối cảnh địa chính trị và thị trường năng lượng thế giới diễn biến khó lường, việc trao đổi thường xuyên về xu hướng chính sách năng lượng, biến động chuỗi cung ứng, các rào cản thương mại, tiêu chuẩn môi trường và những rủi ro phát sinh sẽ giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạch định chiến lược, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thông tin kịp thời và chính xác cũng là một nguồn lực quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế, cơ chế giúp Petrovietnam có thể huy động nguồn lực quốc tế, phát huy năng lực sẵn có nhằm phục vụ phát triển ngành năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Lãnh đạo Petrovietnam đề nghị Bộ Ngoại giao tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành tham mưu hoàn thiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển điện gió ngoài khơi, xây dựng hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia, triển khai điện hạt nhân và mở rộng đầu tư quốc tế trong lĩnh vực năng lượng. Mục tiêu là chuyển hóa hiệu quả các khuôn khổ hợp tác đối ngoại thành các dự án cụ thể, nguồn cung ổn định, công nghệ tiên tiến và nguồn lực mới phục vụ phát triển đất nước.
“Thành công của công tác đối ngoại không chỉ được đo bằng số lượng các chuyến thăm hay văn kiện được ký kết mà còn bằng khả năng bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ tiên tiến và huy động hiệu quả các nguồn lực quốc tế. Petrovietnam sẽ tiếp tục phát huy vai trò doanh nghiệp nòng cốt của ngành công nghiệp - năng lượng quốc gia, chủ động đổi mới, mở rộng hợp tác quốc tế và phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao cùng các bộ, ngành và các đối tác trong và ngoài nước để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền năng lượng Việt Nam độc lập, tự chủ, hiện đại, xanh và bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.



![[VIDEO] Đưa vào vận hành bể chứa mới, NMLD Dung Quất tăng thêm 12,5% năng lực tồn chứa dầu thô](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w400_r3x2/2026_08_04_232_55762520/8d8a22ad68e681b8d8f7.jpg)









