Phải xây dựng nền khoa học cơ bản hiện đại, tự chủ và có tầm nhìn dài hạn
Định hướng phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản được đặt trong yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và xây dựng nền tảng tri thức quốc gia phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước trong nhiều thập niên tới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa xử lý các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Ảnh: TTXVN
Kết luận tại buổi làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác nghiên cứu khoa học cơ bản cả về nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện và phương thức vận hành.
Đây là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia của Việt Nam trong thế kỷ 21.
NHẬN DIỆN NHỮNG ĐIỂM NGHẼN CỦA HỆ SINH THÁI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠ BẢN
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh chiến lược mới, trong đó tri thức, công nghệ, dữ liệu và nhân tài trở thành yếu tố quyết định sức mạnh quốc gia. Các lĩnh vực then chốt định hình tương lai như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, sinh học, vật liệu mới… đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học cơ bản được đầu tư kiên trì qua nhiều thập kỷ.
Trong bối cảnh đó, mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn nặng về gia công, lắp ráp, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, dẫn đến những hạn chế lớn về năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ nền tảng và tự chủ chiến lược.
Để đạt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, văn hóa và con người; trong đó phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu (theo Nghị quyết 57).
Mặc dù nhận thức về vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản đã có bước chuyển biến quan trọng — từ hoạt động học thuật thuần túy sang nền móng tri thức quốc gia, là cơ sở hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực tinh hoa, năng lực dự báo chiến lược và hoạch định chính sách dài hạn — song thực tiễn vẫn còn nhiều điểm nghẽn lớn, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển:
Thứ nhất, hệ sinh thái nghiên cứu chưa hình thành đồng bộ: Hoạt động nghiên cứu còn phân tán, thiếu liên kết giữa các viện, trường, doanh nghiệp. Chưa hình thành các trường phái khoa học và nhóm nghiên cứu mạnh. Chưa gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: TTXVN
Thứ hai, cơ chế quản lý và đầu tư chưa phù hợp: Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản còn thấp. Cơ chế quản lý vẫn nặng tư duy hành chính, quản lý bằng hồ sơ, thủ tục, chứng từ và dự toán năm. Tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến nhà khoa học dành nhiều thời gian cho thủ tục hơn là sáng tạo nghiên cứu. Thiếu cơ chế tài trợ dài hạn (5-10-15 năm) cho các chương trình tích lũy tri thức.
Thứ ba, hạ tầng nghiên cứu yếu: Thiếu các trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, cơ sở dữ liệu lớn và hạ tầng tính toán dùng chung. Đầu tư thiết bị phân tán, thiếu kết nối, hiệu quả sử dụng thấp.
Thứ tư, nhân lực khoa học là điểm nghẽn chiến lược: Chưa xây dựng được hệ sinh thái toàn diện để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài. Đội ngũ chuyên gia đầu ngành mỏng, thiếu lực lượng kế cận. Nhà khoa học trẻ thiếu môi trường phát triển lâu dài. Tình trạng chảy máu chất xám vẫn tiếp diễn.
Thứ năm, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn chưa được phát huy tương xứng: Cần nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò chiến lược của khoa học xã hội và nhân văn trong nghiên cứu lý luận, xây dựng đường lối, hoàn thiện pháp luật, dự báo chiến lược, phát triển văn hóa - con người và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
THỐNG NHẤT QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CƠ BẢN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cần thống nhất quan điểm phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản, coi đây là nền tảng chiến lược quan trọng hàng đầu. Các quan điểm cốt lõi được xác định như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu khoa học cơ bản không phải là hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ 21. Đầu tư cho khoa học cơ bản chính là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và sức cạnh tranh bền vững của đất nước.
Thứ hai, phát triển khoa học cơ bản phải phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược; bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời nâng cao năng lực dự báo, quản trị quốc gia và khả năng thích ứng với các biến động lớn của thế giới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: TTXVN
Thứ ba, phải phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, công nghệ nền tảng với khoa học xã hội và nhân văn. Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, thì khoa học xã hội và nhân văn tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội. Không thể phát triển nhanh và bền vững nếu chỉ mạnh về công nghệ mà yếu về thể chế, văn hóa và con người.
Thứ tư, phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học theo hướng chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từ quản lý theo hồ sơ, thủ tục sang đánh giá theo chất lượng, tác động thực tiễn và đóng góp dài hạn. Xây dựng môi trường học thuật trung thực, tự do sáng tạo nhưng gắn với trách nhiệm khoa học và trách nhiệm quốc gia.
Thứ năm, con người là trung tâm của phát triển khoa học cơ bản. Muốn có nền khoa học mạnh thì trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh và phải xây dựng được hệ sinh thái toàn diện để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học.
HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HIỆN ĐẠI, TỰ CHỦ
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định rõ mục tiêu tổng quát cho sự phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới: xây dựng nền nghiên cứu khoa học cơ bản Việt Nam hiện đại, tự chủ, hội nhập, có trọng tâm, trọng điểm, có khả năng tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, cung cấp luận cứ khoa học chiến lược cho hoạch định đường lối, chính sách và làm nền tảng vững chắc cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Để cụ thể hóa mục tiêu tổng quát này, Kết luận đề ra lộ trình rõ ràng, phân giai đoạn với những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể:
Giai đoạn cấp bách (từ nay đến tháng 6/2027): Đây là giai đoạn then chốt để tạo bước đột phá ban đầu. Yêu cầu đặt ra là phải tháo gỡ toàn bộ các điểm nghẽn, nút thắt đã tồn tại lâu nay trong công tác nghiên cứu khoa học cơ bản.
Phải xác định rõ “vấn đề gì, ai làm, bao giờ xong” đối với từng nút thắt về cơ chế, chính sách, đầu tư, hạ tầng và nhân lực. Đây được xem là nền tảng để chuyển biến mạnh mẽ tình hình trong thời gian tới.
Giai đoạn đến năm 2030: Mục tiêu là hình thành tương đối đồng bộ hệ sinh thái nghiên cứu khoa học cơ bản quốc gia. Cụ thể cần tập trung xây dựng một số trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở dữ liệu khoa học lớn và hạ tầng nghiên cứu dùng chung có năng lực cạnh tranh trong khu vực.
Đồng thời, phải phấn đấu thực hiện hiệu quả các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhất là tăng tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao, tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế, nâng cao năng lực sáng chế trong nước và năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ nền tảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: TTXVN
Trong giai đoạn này, cần sớm hình thành cơ chế tài chính đặc thù cho nghiên cứu khoa học cơ bản, bao gồm cơ chế tài trợ đa niên (5-10-15 năm) đối với các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm nghiên cứu xuất sắc; cơ chế hậu kiểm, chấp nhận rủi ro khoa học; cùng với các cơ chế riêng phù hợp với đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn.
Giai đoạn đến năm 2045: Đây là giai đoạn mang tính chiến lược dài hạn. Việt Nam phấn đấu hình thành một số lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế, từng bước hình thành các trường phái khoa học Việt Nam mang bản sắc riêng.
Đồng thời, nâng cao rõ rệt năng lực tự chủ ở một số công nghệ chiến lược quan trọng, góp phần đưa đất nước trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo đúng mục tiêu Đại hội XIII của Đảng.
TẬP TRUNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, PHÁT TRIỂN NHÂN TÀI VÀ HẠ TẦNG DỮ LIỆU
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp then chốt, trong đó ưu tiên hoàn thiện thể chế, phát triển nhân tài và xây dựng hạ tầng dữ liệu làm ba trụ cột quan trọng để phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản.
Trụ cột thứ nhất - Đổi mới thể chế quản trị nghiên cứu: Kết luận yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo. Cụ thể là giảm mạnh hành chính hóa, tập trung vào hậu kiểm, đánh giá theo chất lượng, kết quả thực tiễn và tác động dài hạn.
Cơ chế quản lý phải chấp nhận rủi ro khoa học, bảo vệ tự do học thuật, đồng thời đề cao trách nhiệm giải trình và liêm chính khoa học, tạo môi trường học thuật trung thực, tự do sáng tạo gắn với trách nhiệm quốc gia.
Trụ cột thứ hai - Xây dựng cơ chế tài chính phù hợp: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu thiết kế cơ chế tài chính đặc thù, phù hợp với từng loại hình nghiên cứu. Theo đó, nghiên cứu cơ bản định hướng tri thức nền cần có ngân sách nền ổn định và cơ chế tài trợ dài hạn.
Nghiên cứu cơ bản định hướng công nghệ chiến lược cần kết hợp đa nguồn: ngân sách Nhà nước, quỹ cạnh tranh, đặt hàng quốc gia và hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để hình thành chuỗi từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng và thương mại hóa.

Các đại biểu tham dự buổi làm việc. Ảnh: TTXVN
Đối với khoa học xã hội và nhân văn, Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, với ngân sách ổn định, vì sản phẩm chủ yếu là tri thức nền, luận cứ chính sách, mô hình quản trị, giá trị văn hóa và phát triển con người, không thể áp dụng cơ chế thương mại hóa thông thường.
Trụ cột thứ ba - Phát triển hệ sinh thái nhân tài khoa học: Một trong những nhiệm vụ chiến lược là xây dựng hệ sinh thái nhân tài đồng bộ, toàn diện, từ phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ, trưởng nhóm nghiên cứu trẻ, đến chuyên gia đầu ngành và thu hút trí thức Việt Nam toàn cầu.
Đặc biệt cần tạo môi trường học thuật tự do, trung thực, sáng tạo, có đãi ngộ xứng đáng, trao quyền tự chủ và giao nhiệm vụ lớn cho người tài.
Trụ cột thứ tư - Xây dựng hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tri thức quốc gia: Kết luận xác định dữ liệu là hạ tầng chiến lược của nghiên cứu khoa học cơ bản trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Do đó cần ưu tiên đầu tư xây dựng: phòng thí nghiệm trọng điểm và thiết bị dùng chung hiện đại; cơ sở dữ liệu khoa học lớn; hạ tầng tính toán hiệu năng cao; thư viện số, kho dữ liệu văn hóa, ngôn ngữ và di sản số.
Các giải pháp hỗ trợ quan trọng khác: Tái định vị hai Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, Khoa học Xã hội Việt Nam trở thành thiết chế tri thức chiến lược của Trung ương và quốc gia; đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc, thu hút chuyên gia nước ngoài và trí thức Việt Nam ở nước ngoài; khẩn trương xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045, Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên và Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản.
Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hoàn thiện báo cáo trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành kết luận với các nhiệm vụ trọng tâm: tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý cho nghiên cứu khoa học cơ bản; khẩn trương xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045; hình thành Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên với cơ chế tài trợ dài hạn, cạnh tranh và chấp nhận rủi ro khoa học.
Kết luận cũng yêu cầu xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học xã hội và nhân văn; triển khai Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản; phát triển hệ thống dữ liệu khoa học và dữ liệu xã hội quốc gia, coi dữ liệu là hạ tầng chiến lược trong thời đại trí tuệ nhân tạo.
Cùng với đó là tái cấu trúc, nâng cao vị thế hai Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Khoa học Xã hội Việt Nam; ban hành Chuẩn liêm chính khoa học quốc gia; đồng thời thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu phục vụ trực tiếp xây dựng nghị quyết, luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách quốc gia.
Tinh thần chung được Kết luận nhấn mạnh là phải hành động quyết liệt hơn, đổi mới mạnh mẽ hơn và có tầm nhìn dài hạn hơn. Không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt, mà quan trọng hơn là chuẩn bị vững chắc nền tảng tri thức cho sự phát triển lâu dài của đất nước trong nhiều thập niên tới.











