Phản hồi điều tra Mục 301: VCCI bác quan ngại dư thừa công suất, lao động cưỡng bức

Gửi ý kiến tới USTR, VCCI đề nghị các cuộc điều tra theo Mục 301 được tiến hành một cách thận trọng, dựa trên các thông tin đầy đủ, cập nhật, khách quan và phản ánh đúng thực tiễn hoạt động sản xuất của Việt Nam.

Phòng WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, ngày 15/4 vừa qua, VCCI đã gửi ý kiến tới Cơ quan Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) về 2 cuộc điều tra do USTR khởi xướng theo quy định Mục 301(b) của Đạo luật Thương mại năm 1974, liên quan tới tình trạng dư thừa công suất mang tính hệ thống của các ngành sản xuất, chế biến và hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ có sử dụng lao động cưỡng.

Theo đó, VCCI khẳng định thực tiễn sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam không tồn tại tình trạng dư thừa công suất mang tính hệ thống, đồng thời không có dấu hiệu sử dụng lao động cưỡng bức trong sản xuất hàng xuất khẩu như các quan ngại được nêu.

VCCI nêu rõ, các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam không phân biệt nguồn gốc sở hữu đều hoạt động bình đẳng trên cùng một khung khổ pháp luật chung, với quyền tự do kinh doanh và tự quyết định tuyệt đối về sản lượng, đầu vào, đầu ra cho sản xuất theo các chỉ dấu thị trường và năng lực của doanh nghiệp.

Sự mở rộng sản xuất trong những năm gần đây phản ánh xu hướng khách quan của thị trường toàn cầu, bao gồm sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng và làn sóng dịch chuyển đầu tư quốc tế.

Trong các ngành xuất khẩu chủ lực sang Hoa Kỳ như điện tử, máy móc thiết bị, đồ gỗ, dệt may và giày dép… phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình gia công theo đơn đặt hàng từ đối tác nước ngoài. Do đó, việc sản xuất được thực hiện nghiêm ngặt theo số lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu về sở hữu trí tuệ đã thỏa thuận.

“Điều này đồng nghĩa với việc sản lượng luôn gắn chặt với nhu cầu thực tế của thị trường, qua đó không tạo ra dư thừa công suất mang tính hệ thống”, VCCI nêu.

VCCI cũng khẳng định, pháp luật và thực tiễn lao động tại Việt Nam tuân thủ với các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm các tiêu chuẩn liên quan đến lao động cưỡng bức

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm các cam kết trong các FTA thế hệ mới và các công ước quốc tế về lao động (Công ước số 29 và số 105 của Tổ chức Lao động quốc tế).

Bộ Luật Lao động năm 2019 của Việt Nam nghiêm cấm lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức, đồng thời bảo đảm quyền của người lao động trong việc tự do lựa chọn việc làm, thỏa thuận điều kiện lao động, tiền lương… Trên thực tế, các quyền này đang được thực thi rộng rãi, đặc biệt trong khu vực sản xuất.

Cùng với đó, với xu hướng gia tăng áp dụng các tiêu chuẩn ESG, các doanh nghiệp ngày càng chủ động đầu tư nhiều nguồn lực vào chính sách và thực tiễn nhằm nâng cao phúc lợi và phát triển người lao động.

Đặc biệt, với một tỷ lệ lớn các khách hàng của Việt Nam là các công ty đa quốc gia. Các khuôn khổ thẩm định chuỗi cung ứng được thiết lập với tiêu chuẩn chặt chẽ và quy trình kiểm soát nghiêm ngặt, nhất là trong lĩnh vực lao động. Các cơ chế này giúp ngăn ngừa các rủi ro vi phạm và bảo đảm mức độ tuân thủ tiêu chuẩn lao động trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Trên cơ sở những lập luận được đưa ra, VCCI đề nghị USTR tiến hành các cuộc điều tra một cách thận trọng, dựa trên các thông tin đầy đủ, cập nhật, khách quan và phản ánh đúng thực tiễn hoạt động sản xuất của Việt Nam.

Một kết luận khách quan và dựa trên bằng chứng sẽ góp phần duy trì sự ổn định của chuỗi cung ứng, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người tiêu dùng Hoa Kỳ, đồng thời bảo đảm việc làm cho hàng triệu lao động trong các ngành sản xuất xuất khẩu của Việt Nam.

Thời gian qua, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và người dân của cả hai nước.

Tại họp báo thường kỳ quý I Bộ Công Thương, bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, cho biết, Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành liên quan đã và đang thường xuyên trao đổi với phía Hoa Kỳ về các chính sách liên quan, trong đó có các nội dung về đàm phán thuế và phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quá trình điều tra theo Mục 301.

Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với phía Hoa Kỳ để chia sẻ thông tin, làm rõ các vấn đề liên quan đến chính sách của Việt Nam. Qua đó, giúp phía Hoa Kỳ hiểu rõ rằng các chính sách của Chính phủ Việt Nam được xây dựng và thực hiện trên cơ sở hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế mở, minh bạch. Việt Nam không ban hành các chính sách trợ cấp nhằm tạo ra tình trạng dư thừa công suất để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.

“Mục tiêu là hướng tới xây dựng một khuôn khổ chính sách phù hợp, tạo điều kiện để hai bên duy trì quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài và cùng có lợi cho cả hai nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế thị trường và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ đầy đủ các quy định liên quan, trong đó có các cam kết và quy định của WTO”, bà Mai nhấn mạnh.

Hoa Kỳ khởi xướng 2 cuộc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 về vấn đề dư thừa công suất đối với 16 quốc gia và vùng lãnh thổ; vấn đề lao động cưỡng bức đối với 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc điều tra áp dụng đối với nhiều quốc gia, gồm cả các nền kinh tế phát triển như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore.

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, theo quy trình của Mục 301, phía Hoa Kỳ sẽ triển khai một quy trình pháp lý riêng. Thời hạn để các quốc gia, trong đó có Việt Nam nộp bản trả lời liên quan đến các quan ngại mà phía Hoa Kỳ đưa ra là ngày 15/4.

Việt Nam đã chủ động tham gia đầy đủ vào quá trình này, chuẩn bị các nội dung trả lời và phối hợp chặt chẽ với phía Hoa Kỳ. Mục tiêu là bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia và lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xử lý các vấn đề thương mại song phương.

Đỗ Kiều

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/phan-hoi-dieu-tra-muc-301-vcci-bac-quan-ngai-du-thua-cong-suat-lao-dong-cuong-buc.html