Phát dương văn hóa các dân tộc thiểu số từ Nghị quyết số 80-NQ/TW

Không bỏ ai lại phía sau trong thụ hưởng văn hóa

Văn hóa không chỉ là di sản để gìn giữ, mà còn là quyền thụ hưởng của mỗi người dân. Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các khu vực khác.

Thời gian qua, từ các chương trình, dự án, hệ thống nhà văn hóa thôn bản, thư viện cơ sở, điểm sinh hoạt cộng đồng,… đã được đầu tư xây dựng. Các hoạt động văn nghệ quần chúng, chiếu phim lưu động, biểu diễn nghệ thuật, đọc sách cộng đồng… được triển khai đã từng bước nâng cao mức thụ hưởng văn hóa cho người dân vùng sâu, vùng xa, địa bàn đặc biệt khó khăn.

Xía Nọi là bản xa nhất của xã Sơn Thủy, tỉnh Thanh Hóa, có 39 hộ/191 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Mông. Dù điện lưới đã về bản từ cuối năm 2022, nhưng Xía Nọi vẫn nằm trong danh sách các điểm "lõm sóng" di động của tỉnh Thanh Hóa.

Trong bối cảnh đó, Đội chiếu phim số 1 thuộc Trung tâm Xúc tiến Du lịch và Văn hóa, Điện ảnh Thanh Hóa đã đem đến "món ăn tinh thần" quý giá cho bà con Xía Nọi. Cùng với các tiết mục biểu diễn văn nghệ, Đội chiếu phim số 1 đã trình chiếu các thước phim về chiến tranh, cách mạng, đời sống xã hội.

Đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Sơn Thủy, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Sơn Thủy

Đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Sơn Thủy, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Sơn Thủy

Theo bà Sùng Thị Lâu - người dân bản Xía Nọi, mỗi lần có đoàn chiếu phim lưu động về, cả bản vui như hội, ai ai cũng hồ hởi đi xem. Ngoài các tiết mục văn nghệ, qua các bộ phim được trình chiếu không chỉ giúp nâng cao kiến thức về pháp luật mà còn làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho dân bản.

"Cõng" văn hóa về bản qua những buổi chiếu phim lưu động là hoạt động thường xuyên, liên tục của Trung tâm Xúc tiến Du lịch và Văn hóa, Điện ảnh Thanh Hóa. Trong năm 2025, đơn vị đã tổ chức 1.450 buổi chiếu, chủ yếu ở các thôn bản vùng sâu, vùng xa, phục vụ 725 nghìn lượt người xem.

Với đồng bào vùng sâu, vùng xa, những buổi chiếu phim lưu động vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn gắn kết cộng đồng, tạo không gian giao lưu, sinh hoạt văn hóa. Những mô hình này cần được tiếp tục triển khai hiệu quả, phù hợp với định hướng của Bộ Chính trị trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026: "Sự nghiệp phát triển văn hóa vừa có nghĩa chiến lược, lâu dài, đồng thời cũng là yêu cầu cấp bách, cần được tiến hành chủ động, tích cực, sáng tạo, kiên trì, thường xuyên và phù hợp với điều kiện thực tế khách quan".

Đặc biệt, sự chủ động, sáng tạo cần được đẩy mạnh hơn nữa ở những địa bàn giao thông đi lại khó khăn, còn "lõm" điện lưới, sóng điện thoại. Theo Báo cáo 3286/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện có khoảng 1.866 thôn chưa có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa, khoảng 34 nghìn hộ chưa được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp.

Một thực tế không thể xem nhẹ là, khoảng cách về điều kiện kinh tế – xã hội giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các khu vực phát triển hơn đã kéo theo khoảng cách trong thụ hưởng văn hóa. Ở một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, người dân, đặc biệt là trẻ em, ít cơ hội tiếp cận sách, báo, nghệ thuật và các hoạt động văn hóa cộng đồng do thiết chế văn hóa còn thiếu hoặc hoạt động chưa hiệu quả, các chương trình văn hóa, nghệ thuật chưa thường xuyên, mức độ tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế.

Theo Báo cáo 3286/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về sơ kết Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi mới có 90,27% thôn có nhà văn hóa; mới có 72.01% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (hoặc câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng; mới có 94,19% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và 98,21% được nghe phát thanh…

Những thiếu hụt này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, mà còn tác động đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển lâu dài của địa phương. Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Chính trị lưu ý về mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân còn chênh lệch giữa các vùng, miền, địa phương, trong khi môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh.

Trở lại bản Xía Nọi, xã Sơn Thủy (Thanh Hóa) để rõ hơn thực tế này. Cuộc sống gắn chặt với núi rừng, điều kiện thụ hưởng văn hóa còn thiếu hụt nên việc xóa bỏ hủ tục là một "cuộc chiến" dai dẳng.

Ở Xía Nọi, trước đây, đại đa số gia đình khi có tang ma đều tổ chức dài ngày (đàn ông để 7 ngày, phụ nữ 9 ngày), mổ trâu bò đãi dân bản. Cũng vì thế, mục tiêu giảm nghèo ở Xía Nọi là hành trình dài đằng đẵng, trong 39 hộ của bản hiện chỉ có 3 hộ cận nghèo, còn lại đều thuộc hộ nghèo.

Từ năm 2013, Thanh Hóa đã triển khai Đề án tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa trong tang lễ vùng đồng bào Mông đến năm 2020 theo Quyết định số 2181/QĐ-UBND; giai đoạn 2021-2025 tiếp tục được triển khai theo Kế hoạch số 60/KH-UBND ngày 19/3/2021 của UBND tỉnh. Mặc dù đã có chuyển biến tích cực, nhưng hủ tục này vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn.

Từ thực tế ở Xía Nọi cho thấy, khoảng cách thụ hưởng văn hóa là rào cản thầm lặng của phát triển. Vì vậy, trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu: "Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hóa đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số".

Để hiện thực hóa chủ trương này, một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải hoàn thiện thiết chế văn hóa cơ sở, vừa có đủ cơ sở vật chất, vừa bảo đảm hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Bởi có một thực tế không thể xem nhẹ là thiết chế văn hóa cơ sở đang trong tình trạng vừa thừa, vừa thiếu.

Ở miền núi, dù đã được đầu tư nhưng hiện một số địa phương vẫn thiếu nhà văn hóa, hoặc nhà văn hóa không đủ diện tích sinh hoạt. Đáng kể nhất là Điện Biên, theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số lần thứ III, đây là tỉnh có tỷ lệ xã có nhà văn hóa thấp nhất cả nước (73,2%), tỷ lệ thôn có nhà văn hóa cũng rất thấp (59,2%).

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

Ngược lại, theo PS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, một trong những bất cập lớn của lĩnh vực văn hóa thời gian qua là không ít thiết chế văn hóa được đầu tư nhưng khai thác kém hiệu quả. Đây là thực trạng được ông Sơn chỉ rõ tại Hội thảo khoa học quốc gia "Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị", diễn ra ngày 15/4.

Theo ông Sơn, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đi thẳng vào điểm nghẽn này, yêu cầu hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp có thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa; phấn đấu 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.

"Nghị quyết đề xuất chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy PPP trong lĩnh vực văn hóa, triển khai mô hình "lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công đối với công trình thể thao, sân vận động, nhà hát, rạp chiếu phim, trung tâm văn hóa - thể thao cấp tỉnh, cấp xã, bảo tàng, cũng như hoạt động tôn tạo, khai thác và phát huy giá trị di tích, di sản văn hóa…", ông Sơn cho biết.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây là một đột phá rất thực chất. Bởi giá trị của thiết chế văn hóa không nằm ở việc có công trình, mà ở khả năng biến công trình đó thành không gian sống của cộng đồng, nơi diễn ra sáng tạo, giáo dục, giao lưu và hưởng thụ văn hóa.

Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn, xã Bắc Sơn, Lạng Sơn - Ảnh Thúy Hồng

Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn, xã Bắc Sơn, Lạng Sơn - Ảnh Thúy Hồng

Nhìn từ thực tế đó có thể thấy, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa không chỉ là câu chuyện đầu tư thiết chế hay tổ chức hoạt động, mà còn là quá trình khơi dậy và phát huy những giá trị văn hóa sẵn có trong cộng đồng. Khi người dân được tiếp cận, tham gia và sáng tạo trong đời sống văn hóa, thì văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển, góp phần thay đổi nhận thức, xóa bỏ hủ tục và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 80-NQ/TW: Không chỉ bảo tồn văn hóa như một di sản cần gìn giữ, mà phải làm cho văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững, mang lại sinh kế, tạo việc làm và mở ra cơ hội vươn lên cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khi những giá trị truyền thống được đánh thức, được tổ chức, được kết nối với thị trường và du lịch, di sản sẽ không chỉ nằm trong ký ức cộng đồng, mà sẽ bước ra đời sống, trở thành nguồn lực phát triển thực sự.

Bài cuối: Đưa di sản thành động lực phát triểnSơn Hào

Nguồn Chính Phủ: https://media.chinhphu.vn/phat-duong-van-hoa-cac-dan-toc-thieu-so-tu-nghi-quyet-80-bai-2-lap-khoang-trong-thu-huong-van-hoa-102260421154723073.htm