Phát hiện sớm bệnh gan mạn tính, mở rộng cơ hội điều trị

Bệnh gan mạn tính có thể tiến triển âm thầm từ gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa và viêm gan virus đến xơ hoá gan, xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan (HCC).

Khi được phát hiện ở giai đoạn muộn, cơ hội điều trị có thể bị thu hẹp. Vì vậy, phát hiện sớm và phân tầng nguy cơ đang trở thành một mắt xích quan trọng trong quản lý toàn diện bệnh gan.

Đây là một trong những nội dung trọng tâm được các chuyên gia trao đổi tại OneLiver 2026, chuỗi hội thảo khoa học với chủ đề "Định hướng tương lai trong quản lý toàn diện bệnh gan" do Hội Gan mật Việt Nam phối hợp với Roche Việt Nam tổ chức. 

Chương trình quy tụ các chuyên gia trong lĩnh vực Nội tiết và Chuyển hóa, Tiêu hóa và Gan mật, Ung thư, Hóa sinh lâm sàng cùng thảo luận về các giải pháp kết nối từ phát hiện sớm, chẩn đoán đến theo dõi và điều trị người bệnh.

Bệnh gan diễn tiến âm thầm, nguy cơ thường được nhận diện muộn

Quang cảnh hội thảo.  Ảnh: Quỳnh Khanh

Quang cảnh hội thảo.  Ảnh: Quỳnh Khanh

Theo Báo cáo thường niên năm 2025 của Liên minh Bệnh gan Châu Á - Thái Bình Dương, viêm gan virus B (HBV) và viêm gan virus C (HCV) tiếp tục là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan.

Tại Việt Nam, năm 2024, ung thư biểu mô tế bào gan nằm trong nhóm 3 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư, với hơn 14.000 ca mắc mới được ghi nhận.

Bên cạnh viêm gan virus, bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa cũng đang trở thành một vấn đề đáng lưu ý. Báo cáo dịch tễ học năm 2024 đăng trên Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) cho thấy bệnh ảnh hưởng tới khoảng 38% người trưởng thành trên toàn thế giới. Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM năm 2023 ghi nhận tỷ lệ mắc tại Việt Nam là 29,31%.

Điểm đáng lưu ý là bệnh gan mạn tính thường không gây triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu. Người bệnh có thể vẫn sinh hoạt bình thường trong khi tổn thương gan âm thầm tiến triển. Với bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa, không ít trường hợp chỉ được phát hiện khi đã xuất hiện xơ hóa tiến triển, xơ gan hoặc biến chứng.

Trong khi đó, các xét nghiệm men gan thông thường như AST, ALT không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ mức độ tổn thương. Sinh thiết gan được xem là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá mô bệnh học nhưng là phương pháp xâm lấn, khó áp dụng để sàng lọc trên diện rộng.

Những hạn chế này đặt ra yêu cầu tìm kiếm các phương pháp phát hiện và phân tầng nguy cơ thuận tiện, ít xâm lấn hơn, qua đó giúp người bệnh được đánh giá sớm và kết nối với bước chăm sóc phù hợp.

Kết hợp xét nghiệm và thuật toán để phân tầng nguy cơ

Tại OneLiver 2026, các chuyên gia tập trung trao đổi về xét nghiệm máu không xâm lấn, dấu ấn sinh học, thuật toán số hóa và các ca lâm sàng thực tế.

Thay vì chỉ dựa vào một chỉ số xét nghiệm đơn lẻ, việc kết hợp nhiều dữ liệu lâm sàng và xét nghiệm với các thuật toán phù hợp có thể hỗ trợ bác sĩ đánh giá nguy cơ tổn thương, mức độ xơ hóa và xác định nhóm người bệnh cần được theo dõi hoặc đánh giá chuyên sâu hơn.

GS.TS.BS Jacob George, Trưởng khoa Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Westmead, Giáo sư Y khoa về Bệnh gan, Đại học Sydney, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh gan Châu Á - Thái Bình Dương phát biểu. Ảnh: Quỳnh Khanh

GS.TS.BS Jacob George, Trưởng khoa Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Westmead, Giáo sư Y khoa về Bệnh gan, Đại học Sydney, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh gan Châu Á - Thái Bình Dương phát biểu. Ảnh: Quỳnh Khanh

Đối với người bệnh có dấu hiệu gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa, các thuật toán dựa trên nhiều yếu tố như dấu hiệu xơ hóa, tuổi, tình trạng đái tháo đường type 2 và số lượng tiểu cầu có thể hỗ trợ phân tầng nguy cơ xơ hóa gan.

GS.TS.BS Jacob George, Trưởng khoa Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Westmead, Giáo sư Y khoa về Bệnh gan, Đại học Sydney, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh gan Châu Á - Thái Bình Dương, nhận định xu hướng kết hợp các công nghệ chẩn đoán có thể góp phần giải quyết khoảng trống về công cụ phân tầng nguy cơ, hạn chế những trường hợp phải sinh thiết gan không cần thiết và nhận diện sớm nguy cơ tiến triển thành xơ gan giai đoạn cuối.

Cách tiếp cận này cho thấy vai trò ngày càng rõ của các phương pháp không xâm lấn trong quản lý bệnh gan: không thay thế đánh giá chuyên môn mà cung cấp thêm dữ liệu để bác sĩ đưa ra quyết định phù hợp với từng người bệnh.

Với ung thư biểu mô tế bào gan, thời điểm phát hiện có ý nghĩa quan trọng đối với các bước điều trị tiếp theo. Những người thuộc nhóm nguy cơ cao như mắc viêm gan virus mạn tính hoặc có xơ hóa gan cần được theo dõi và đánh giá phù hợp.

Theo PGS.TS.BS Phạm Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch Hội Gan mật Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM, khi ung thư biểu mô tế bào gan được phát hiện muộn, việc điều trị có thể gặp nhiều khó khăn hơn.

Do đó, xét nghiệm kết hợp với các thuật toán lâm sàng có thể được sử dụng như một công cụ hỗ trợ nhận diện bệnh sớm ở nhóm nguy cơ. Bên cạnh đó, các phương pháp khác như siêu âm vẫn có vai trò quan trọng và có thể được phối hợp để nâng cao hiệu quả chẩn đoán.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là phát hiện được bệnh, mà là phát hiện ở thời điểm người bệnh còn nhiều cơ hội lựa chọn phương pháp điều trị và kiểm soát bệnh.

PGS.TS.BS. Phạm Thị Thu Thủy - Phó Chủ tịch Hội Gan mật Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM tham luận tại hội thảo. Ảnh: Quỳnh Khanh

PGS.TS.BS. Phạm Thị Thu Thủy - Phó Chủ tịch Hội Gan mật Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM tham luận tại hội thảo. Ảnh: Quỳnh Khanh

Liên thông chuyên khoa, quản lý người bệnh theo hành trình

Một nội dung được nhấn mạnh tại chương trình là phát hiện sớm bệnh gan không thể tách rời khỏi sự phối hợp giữa nhiều chuyên ngành. Nội tiết và Chuyển hóa, Tiêu hóa và Gan mật, Ung thư, Hóa sinh lâm sàng cần cùng tham gia trong quá trình đánh giá nguy cơ, chẩn đoán, theo dõi và điều trị.

Sự phối hợp này giúp chuyển cách tiếp cận từ xử lý từng kết quả xét nghiệm hoặc từng giai đoạn bệnh sang quản lý toàn diện hành trình của người bệnh. Người có nguy cơ được nhận diện sớm, được phân tầng, theo dõi định kỳ và chuyển đến chuyên khoa phù hợp khi cần thiết.

Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 theo Nghị quyết 262/2025/QH15 của Quốc hội, trong đó nhấn mạnh phòng bệnh từ sớm, từ xa ngay tại cơ sở, tăng cường chăm sóc nhóm nguy cơ cao và nâng cao sức khỏe toàn diện cho người dân.

Khép lại chương trình, PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM, Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM, Ban chuyên gia Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, nhấn mạnh hội thảo là diễn đàn khoa học để các chuyên ngành trao đổi sâu về những tiến bộ trong chẩn đoán, qua đó hỗ trợ định hướng và tối ưu chất lượng điều trị, quản lý người bệnh mắc bệnh gan mạn tính.

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM, Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM, Ban chuyên gia Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM phát biểu.

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM, Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM, Ban chuyên gia Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM phát biểu.

Thái Bình

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/phat-hien-som-benh-gan-man-tinh-mo-rong-co-hoi-dieu-tri-169260928171020881.htm