Phát huy 'chìa khóa' ngôn ngữ, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững chắc
Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là con đường ngắn nhất để đi vào lòng dân. Từ thực tiễn công tác và qua Hội thi tiếng dân tộc Mông trong Bộ đội Biên phòng, khu vực 2 năm 2026 cho thấy, khi cán bộ, chiến sĩ nói được tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu phong tục, tập quán và tâm lý của nhân dân, thì công tác tuyên truyền, vận động trở nên hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững chắc nơi biên cương.

Đội thi Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai với tiểu phẩm tuyên truyền bằng tiếng Mông “Tôi hiểu rồi” gây ấn tượng sâu sắc và xuất sắc đoạt giải Nhất. Ảnh: Chiến Khu
Từ hội thi nhìn rõ chiều sâu công tác dân vận
Hội thi tiếng dân tộc Mông trong Bộ đội Biên phòng, khu vực 2 năm 2026 (tổ chức tại tỉnh Lào Cai, gồm Bộ đội Biên phòng 4 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu, Điện Biên) không chỉ là hoạt động nghiệp vụ, mà còn là dịp để đánh giá thực chất năng lực sử dụng tiếng dân tộc thiểu số của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ ở cơ sở. Với 32 thí sinh tham gia, đều là những cán bộ thường xuyên bám địa bàn, bám dân, hội thi đã phản ánh rõ nét mối liên hệ chặt chẽ giữa năng lực ngôn ngữ và hiệu quả công tác dân vận.
Ở phần thi cá nhân, các thí sinh thể hiện khá toàn diện từ phát âm, vốn từ đến khả năng xử lý tình huống. Nhiều đồng chí không chỉ nói đúng, mà còn biết lựa chọn cách diễn đạt phù hợp với từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể, cho thấy sự am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán, tâm lý của đồng bào dân tộc Mông.
Tuy nhiên, điểm nhấn rõ nét nhất của hội thi chính là phần thi tập thể. Đơn cử, tiểu phẩm tuyên truyền bằng tiếng Mông “Tôi hiểu rồi” của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã để lại ấn tượng sâu sắc. Không lựa chọn cách thể hiện kịch tính hay phô diễn hình thức, tiểu phẩm đi vào một vấn đề quen thuộc nhưng còn nhiều trăn trở ở cơ sở, đó là tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và việc cho con nghỉ học sớm. Đáng chú ý là tiểu phẩm không áp đặt kết luận, mà tập trung làm rõ quá trình chuyển biến nhận thức của người dân. Hình ảnh cán bộ Bộ đội Biên phòng kiên trì sử dụng tiếng Mông để giải thích, phân tích từng vấn đề, gắn với đời sống thực tế của gia đình, đã tạo nên sự thuyết phục. Cái kết của “Tôi hiểu rồi” không chỉ là lời nói của nhân vật, mà còn là kết quả của một quá trình dân vận đúng phương pháp, lấy thuyết phục làm chính, lấy hiểu biết và tình cảm để thay đổi nhận thức.
Từ điểm nhấn đó có thể thấy các tiểu phẩm tại hội thi đều có sự đầu tư công phu, bám sát thực tiễn địa bàn. Mỗi đơn vị lựa chọn một cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở điểm chung là đưa đời sống vào nội dung tuyên truyền, lấy tiếng dân tộc làm phương tiện truyền tải, qua đó làm nổi bật vai trò của công tác dân vận trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới.
Những vấn đề như mê tín dị đoan trong chăm sóc sức khỏe, bất bình đẳng giới trong gia đình hay sự tác động của các yếu tố tiêu cực đến đời sống cộng đồng được phản ánh chân thực, gần gũi. Không có sự áp đặt hay khô cứng, các tiểu phẩm đều hướng tới mục tiêu làm cho người dân hiểu, từ đó tự thay đổi nhận thức và hành động.
Thiếu tá Nùng Văn Chủ, Nhân viên Phòng, chống ma túy và tội phạm, Đội Phòng, chống ma túy và tội phạm, Đồn Biên phòng Tả Gia Khâu, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai chia sẻ: “Những nội dung trong phần thi tập thể đều rất sát với thực tế địa bàn. Khi tuyên truyền bằng tiếng Mông, bà con dễ hiểu, dễ tiếp thu hơn, từ đó hiệu quả công tác dân vận cũng rõ rệt hơn”.
Có thể khẳng định, hội thi không chỉ là nơi đánh giá năng lực, mà còn là minh chứng cho sự chuyển biến tích cực trong việc học và sử dụng tiếng dân tộc thiểu số của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn với nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Thông thạo ngôn ngữ đồng bào là “chìa khóa” nâng cao hiệu quả vận động quần chúng
Từ những kết quả tại hội thi và thực tiễn công tác cho thấy, ngôn ngữ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác vận động quần chúng ở khu vực biên giới. Ở những địa bàn vùng cao, nơi điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, phong tục, tập quán truyền thống vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cộng đồng, nếu không sử dụng ngôn ngữ phù hợp thì rất khó tạo chuyển biến rõ rệt.
Muốn dân hiểu, trước hết phải nói bằng tiếng dân quen; muốn dân tin, phải tiếp cận bằng sự chân thành, tôn trọng và sẻ chia. Đây không chỉ là kinh nghiệm mà đã trở thành yêu cầu mang tính nguyên tắc trong công tác dân vận của Bộ đội Biên phòng.
Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề phức tạp như tảo hôn, mê tín dị đoan, vi phạm pháp luật hay các biểu hiện tiêu cực trong đời sống cộng đồng đã được giải quyết hiệu quả hơn, khi cán bộ biết sử dụng tiếng dân tộc thiểu số. Khi được giải thích bằng chính tiếng nói của dân tộc mình, người dân không chỉ hiểu đúng, mà còn dễ dàng tiếp nhận, từ đó thay đổi nhận thức và hành động.
Thiếu úy Chu Tiến Giang, Đội trưởng Đội Phòng, chống ma túy và tội phạm, Đồn Biên phòng Sin Suối Hồ, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu cho biết: “Học tiếng Mông phải gắn với thực tế đời sống của bà con. Khi nói được tiếng của bà con, việc tuyên truyền, vận động trở nên thuận lợi hơn rất nhiều, bà con cũng tin tưởng và hợp tác hơn”.
Ở góc độ trực tiếp làm công tác vận động quần chúng, Đại úy Chẻo Cù Páo, Nhân viên Vận động quần chúng, Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Đồng Văn, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang chia sẻ: “Địa bàn có đông đồng bào Mông sinh sống, nếu không biết tiếng thì rất khó tiếp cận, khó nắm bắt tâm tư, nguyện vọng; ngược lại, khi nói được tiếng Mông, việc vận động bà con cũng thuận lợi hơn”.
Từ thực tiễn đó có thể khẳng định, ngôn ngữ chính là “sức mạnh mềm” trong công tác biên phòng. Không cần những biện pháp cứng nhắc, chính sự thấu hiểu, tôn trọng thông qua ngôn ngữ đã giúp rút ngắn khoảng cách, củng cố niềm tin của nhân dân đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng. Phương châm “3 bám, 4 cùng” vì thế càng thể hiện rõ giá trị trong thực tiễn. Trong đó, “cùng nói tiếng đồng bào” không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ, mà còn là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm, bản lĩnh của người cán bộ Biên phòng.
Sau hội thi, điều quan trọng là duy trì được khí thế học tập, biến kết quả thành hành động cụ thể trong từng đơn vị. Việc học tiếng dân tộc thiểu số cần được tiến hành thường xuyên, gắn với nhiệm vụ trên từng tuyến, từng địa bàn; học từ thực tiễn, từ nhân dân và trong chính quá trình công tác hằng ngày. Khi đó, tiếng nói sẽ không dừng lại trên sân khấu hội thi, mà thực sự trở thành nhịp cầu nối ý Đảng với lòng dân, trở thành “chìa khóa” mở cánh cửa niềm tin, góp phần xây dựng thế trận biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc.











