Phát triển các ngành kinh tế biển mới - Bức tranh Nhật Bản và bài học cho Việt Nam
Chuyển dịch sang kinh tế biển mới là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và bảo đảm chủ quyền bền vững. Những bài học của Nhật Bản về công nghiệp đóng tàu xanh, vận tải biển giảm phát thải, cảng trung hòa carbon và mô hình Hải nghiệp là những chỉ dẫn thiết thực.
Trong lịch sử phát triển kinh tế nhân loại, đại dương luôn đóng vai trò huyết mạch kết nối giao thương và là nguồn cung ứng tài nguyên quan trọng. Tuy nhiên, mô hình khai thác biển truyền thống dựa trên đánh bắt quá mức, nhiên liệu hóa thạch và công nghiệp hàng hải phát thải cao đang tạo sức ép nặng nề lên hệ sinh thái toàn cầu.
Trước yêu cầu chuyển đổi xanh, cam kết Net Zero vào năm 2050 và Chiến lược giảm phát thải khí nhà kính sửa đổi của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) năm 2023, khái niệm “Kinh tế biển mới” (Sustainable Blue Economy) đã trở thành xu thế chủ đạo, kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn sinh thái với công nghệ sâu, năng lượng sạch và kinh tế tuần hoàn.

Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tạo đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và hình thành các ngành kinh tế biển mới. Ảnh: TTXVN
Tại Việt Nam, nhằm cụ thể hóa định hướng này trong giai đoạn mới, ngày 7/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và hình thành các ngành kinh tế biển mới.
Là cường quốc hàng hải dẫn đầu về công nghệ, Nhật Bản đã tái cơ cấu thành công kinh tế đại dương với chuỗi giá trị vận tải, đóng tàu và cảng biển xanh. Việc đúc kết kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ mang lại những bài học thực tiễn giá trị cho Việt Nam.
Bức tranh kinh tế biển mới của Nhật Bản
Nhật Bản triển khai các nội dung công nghiệp hàng hải và đại dương mang tính đột phá với các nội dung sau.
Khung chính sách đại dương: Từ nền tảng Luật Cơ bản về Đại dương năm 2007, tháng 4/2023, Nội các Nhật Bản thông qua Kế hoạch Cơ bản về Chính sách Đại dương lần thứ 4 (giai đoạn 2023 - 2028).
Chiến lược này đặt trọng tâm vào kinh tế đại dương bền vững dưới sự điều phối tập trung của Văn phòng Chính sách Đại dương Tổng hợp thuộc Nội các, liên kết chặt chẽ các bộ: Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (MLIT); Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI); Bộ Môi trường Nhật Bản (MOE) và Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF).
Đột phá đóng tàu xanh: Báo cáo của OECD năm 2026 ghi nhận Nhật Bản giữ vững vị trí trong top 3 quốc gia đóng tàu hàng đầu thế giới, chiếm khoảng 13% sản lượng bàn giao toàn cầu; trên 35% tàu đóng mới giai đoạn 2024 - 2026 tích hợp tính năng tiết kiệm năng lượng và sẵn sàng dùng nhiên liệu sạch.
Thông qua Quỹ Đổi mới Xanh 2.000 tỷ Yên (thành lập 2021), Nhật Bản đẩy mạnh thương mại hóa động cơ Amoniac, Hydro, Methanol trước năm 2028. Năm 2024, tàu thương mại HANARIA chạy pin nhiên liệu hydro kết hợp lithium-ion đi vào hoạt động, giảm 53 - 100% phát thải khí nhà kính. Các tập đoàn như JMU, Mitsubishi Shipbuilding, Imabari, Tsuneishi liên danh phát triển tàu chở điện pin container, tàu chở khí hóa lỏng và ứng dụng robot hàn tự động, bản sao kỹ thuật số (Digital Twin) để giải quyết bài toán già hóa lao động.

Cầu Cửa Nhượng bắc qua cửa biển và bãi biển Thiên Cầm, Hà Tĩnh. Ảnh: TTXVN
Vận tải biển xanh và cảng biển trung hòa Carbon: Đội tàu do Nhật Bản kiểm soát chiếm 10,6% DWT toàn cầu, chuyên chở trên 99,6% khối lượng xuất nhập khẩu. Từ năm 2023, Nhật Bản tích cực thiết lập các Hành lang hàng hải xanh quốc tế; đồng thời lắp đặt cánh buồm cứng tự động (Wind Challenger) trên tàu hàng rời từ năm 2022, giảm 5 - 8% tiêu thụ nhiên liệu.
Về cảng biển, mô hình Carbon Neutral Port (CNP) triển khai tại Kobe, Yokohama, Nagoya bắt buộc trang bị hệ thống cấp điện bờ (Cold Ironing), cơ giới hóa phương tiện bãi cảng bằng pin hydro/điện và định hình trung tâm cung ứng nhiên liệu sạch thế hệ mới.
Các ngành biển mới bổ trợ: Căn cứ Luật Sử dụng vùng biển năng lượng tái tạo năm 2019, Nhật Bản đặt mục tiêu 10 GW điện gió ngoài khơi vào năm 2030 và 30 - 45 GW vào năm 2040 với các vòng đấu thầu giao quyền sử dụng biển 30 năm.
Về sinh kế ven biển, mô hình "Hải nghiệp" (Umigyo) luật hóa năm 2022 kết hợp nuôi biển công nghệ cao với du lịch trải nghiệm. Ngoài ra, cơ chế tín chỉ carbon đại dương (J-Blue Credit) từ năm 2020 thương mại hóa hiệu quả năng lực hấp thụ CO2 của thảm cỏ và rừng rong biển.
Thực trạng kinh tế biển Việt Nam và
kinh nghiệm từ Nhật Bản
Với bờ biển dài hơn 3.260 km, Việt Nam ghi nhận bước phát triển quan trọng. Đến năm 2025 - 2026, đội tàu mang cờ quốc tịch đạt khoảng 12 triệu DWT. Sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển năm 2026 dự kiến sẽ cán mốc trên 1 tỷ tấn với điểm tựa là các cảng nước sâu Lạch Huyện và Cái Mép - Thị Vải. Ngoài ra, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi ước đạt 600 GW.

Cơ chế giao khu vực biển cho điện gió ngoài khơi đang trong quá trình tháo gỡ. Ảnh: TTXVN
Tuy nhiên, nền kinh tế biển nước ta đối mặt nhiều điểm nghẽn: đội tàu chủ yếu là hàng rời, bách hóa cỡ nhỏ, tuổi tàu cao và chạy nhiên liệu hóa thạch truyền thống; công nghiệp đóng tàu chưa làm chủ công nghệ đóng tàu xanh, phụ trợ nội địa hóa thấp; hạ tầng cảng xanh và cấp điện bờ chưa đồng bộ; áp lực gỡ "thẻ vàng" IUU gay gắt.
Bên cạnh đó, nuôi biển xa bờ công nghệ cao chưa phát triển tương xứng; hành lang pháp lý phân vùng không gian biển và cơ chế giao khu vực biển cho điện gió ngoài khơi vẫn đang trong quá trình tháo gỡ.

Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển. Ảnh: TTXVN
Thực tiễn của Nhật Bản cho thấy một số kinh nghiệm đáng tham khảo đối với Việt Nam.
Hành lang pháp lý ổn định: Ban hành cơ chế giao quyền sử dụng không gian biển dài hạn (lên tới 30 năm) để thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào năng lượng tái tạo ngoài khơi quy mô lớn.
Liên minh chuỗi giá trị hàng hải xanh: Gắn kết Viện nghiên cứu - Nhà máy đóng tàu - Doanh nghiệp vận tải biển - Đơn vị khai thác cảng dưới sự điều phối tài chính từ các quỹ đổi mới chuyên biệt của Nhà nước.
Tái cấu trúc mô hình "Hải nghiệp" (Umigyo): Đa dạng hóa sinh kế ngư dân, chuyển dần từ đánh bắt quá tải ven bờ sang nuôi biển thông minh kết hợp dịch vụ hậu cần và du lịch trải nghiệm biển đảo.
Quản trị đại dương tích hợp: Thiết lập cơ quan điều phối liên ngành tập trung cấp trung ương để xóa bỏ tình trạng phân tán thẩm quyền giữa giao thông, tài nguyên, công thương và thủy sản.
Kích hoạt tài chính Blue Carbon: Chuẩn hóa cơ chế định giá và giao dịch tín chỉ carbon từ rừng ngập mặn, thảm cỏ biển nhằm tạo nguồn lực tư nhân tái đầu tư bảo tồn đại dương.
Để thực hiện thành công phát triển kinh tế biển mới trên cơ sở Nghị quyết 218/NQ-CP năm 2026, chúng ta có thể thực hiện đồng bộ 4 nhóm giải pháp sau:
Đột phá thể chế và quy hoạch biển. Khẩn trương triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050; hoàn thiện cơ chế giao khu vực biển dài hạn cho các dự án điện gió ngoài khơi, vùng nước sâu và mỏ cận biên; xây dựng khung pháp lý thị trường tín chỉ carbon biển.
Hiện đại hóa chuỗi giá trị Đóng tàu - Vận tải - Cảng xanh. Triển khai Chương trình Quốc gia về công nghiệp hàng hải và cơ khí biển; tái cấu trúc các nhà máy đóng tàu chủ lực, hợp tác chuyển giao công nghệ với Nhật Bản để đóng tàu dịch vụ điện gió (SOV, CTV) và tàu chạy nhiên liệu sạch; ưu đãi thuế, tín dụng trẻ hóa đội tàu; áp dụng tiêu chí Cảng xanh và thí điểm cấp điện bờ tại Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải... kết nối đa phương thức đường bộ, đường sắt, thủy nội địa.

Nuôi trồng và chế biến thủy sản giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển. Ảnh: TTXVN
Tái cơ cấu thủy sản và kinh tế biển kết hợp. Thực hiện kiên quyết giải pháp gỡ cảnh báo "thẻ vàng" IUU; triển khai đề án "Hải nghiệp", hỗ trợ ngư dân chuyển sang nuôi biển công nghiệp lồng bè nuôi trồng thủy sản làm từ nhựa (HDPE) xa bờ gắn với du lịch sinh thái; nghiên cứu mô hình tích hợp điện mặt trời/nuôi biển trong trang trại điện gió ngoài khơi.
Đào tạo nhân lực chất lượng cao và khoa học đại dương. Ban hành đề án đào tạo chuyên gia, kỹ sư hải dương học, kỹ thuật công trình biển và logistics xanh; mở rộng hợp tác tu nghiệp với các tổ chức uy tín của Nhật Bản như Quỹ Nippon, Viện Nghiên cứu Chính sách Đại dương (OPRI).
Chuyển dịch sang kinh tế biển mới là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và bảo đảm chủ quyền bền vững. Những bài học của Nhật Bản về công nghiệp đóng tàu xanh, vận tải biển giảm phát thải, cảng trung hòa carbon và mô hình Hải nghiệp là những chỉ dẫn thiết thực.
Kiên định mục tiêu Nghị quyết 36-NQ/TW và cụ thể hóa Chương trình hành động tại Nghị quyết 218/NQ-CP, Việt Nam sẽ tạo bước chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (2025), Báo cáo tổng kết năm 2025, Hà Nội.
Cabinet Office, Government of Japan (2023), The 4th Basic Plan on Ocean Policy, Headquarters for Ocean Policy, Tokyo.
Ministry of Land, Infrastructure, Transport and Tourism - MLIT (2024), Roadmap for Zero-Emission Ships and Development of Carbon Neutral Ports (CNP) in Japan, Tokyo.
OECD (2026), Peer Review of the Japanese Shipbuilding Industry 2026, OECD Publishing, Paris.
Maritime Japan & The Nippon Foundation (2025), Shipbuilding in Japan 2025: Net Zero Initiatives, Decarbonization and Digital Transformation, Tokyo.

