Phát triển công nghiệp hỗ trợ, hướng tới tự chủ sản xuất

HNN.VN - Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035. Chương trình đặt mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ hiện đại, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất và tăng cường năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

Một góc nhà máy của Kim Long motor Huế. Ảnh: Kim Long motor

Một góc nhà máy của Kim Long motor Huế. Ảnh: Kim Long motor

Xây dựng nền công nghiệp hỗ trợ hiện đại, gắn với đổi mới công nghệ

Theo Quyết định được phê duyệt, công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng quan trọng để phát triển nền công nghiệp quốc gia theo hướng bền vững, tự chủ và hiện đại. Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ không chỉ góp phần nâng cao năng lực sản xuất trong nước mà còn giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và thiết bị đầu vào, qua đó tăng khả năng tự chủ của nền kinh tế và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức “hai con số”.

Chương trình nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn với nâng cao năng lực doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và tỷ lệ nội địa hóa do các doanh nghiệp dẫn dắt đặt ra sẽ trở thành định hướng quan trọng cho các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong nước.

Trong chiến lược phát triển mới, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được xác định là lực lượng trung tâm, đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động sản xuất, đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, khoa học công nghệ cũng như các cơ hội thị trường.

Chương trình đặt yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn liền với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại. Các doanh nghiệp được khuyến khích đẩy mạnh tự động hóa, sản xuất thông minh, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh.

Bên cạnh đó, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường, sử dụng năng lượng hiệu quả và phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Chương trình xác định lấy thị trường trong nước làm điểm tựa, đồng thời coi thị trường quốc tế là động lực tăng trưởng. Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao khả năng cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện và thiết bị cho cả doanh nghiệp trong nước lẫn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Song song với đó là tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Việc triển khai Chương trình sẽ tập trung theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên các chuỗi cung ứng, cụm sản phẩm và những bài toán công nghệ quy mô lớn. Kết quả đầu ra, tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng tạo ra trong nước và mức độ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ là những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả thực hiện.

Lĩnh vực Dệt may sẽ được quan tâm hỗ trợ đổi mới công nghệ. Ảnh: Dệt may Huế

Lĩnh vực Dệt may sẽ được quan tâm hỗ trợ đổi mới công nghệ. Ảnh: Dệt may Huế

Tăng tỷ lệ nội địa hóa, hình thành doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nòng cốt

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới; từng bước làm chủ công nghệ sản xuất các nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và thiết bị đầu vào quan trọng; đồng thời tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đưa một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân từ 40 - 45%, đồng thời nâng chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp vào nhóm ba quốc gia dẫn đầu ASEAN.

Chương trình tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ phục vụ các lĩnh vực điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, ô tô, cơ khí chế tạo, tự động hóa, công nghiệp công nghệ cao, dệt may và da giày theo định hướng kinh tế xanh.

Đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa của ngành điện tử được đặt mục tiêu đạt từ 25 - 30%; ngành cơ khí chế tạo đạt 40%; ngành ô tô đạt từ 22 - 30%; ngành dệt may đạt 60%; ngành da giày từ 60 - 65%; công nghiệp công nghệ cao đạt khoảng 15%.

Dự kiến có khoảng 600 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được hỗ trợ tư vấn, đào tạo về hệ thống quản trị doanh nghiệp và quản trị sản xuất, trong đó khoảng 400 doanh nghiệp áp dụng thành công các hệ thống được chuyển giao.

Bên cạnh đó, khoảng 80 doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ phát triển năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, sản xuất thử nghiệm và tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Trong số này, dự kiến có 40 doanh nghiệp áp dụng thành công các công nghệ mới, bao gồm công nghệ xử lý vật liệu và các công nghệ lõi thông minh, thân thiện môi trường trong lĩnh vực dệt may - da giày.

Tầm nhìn đến năm 2035, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam sẽ phát triển theo hướng hiện đại với đa số chuyên ngành sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp sẽ từng bước làm chủ các khâu nghiên cứu, thiết kế và chế tạo, qua đó nâng cao tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền công nghiệp quốc gia.

Theo các chỉ tiêu đặt ra, đến năm 2035, tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử sẽ đạt từ 35 - 40%; cơ khí chế tạo đạt 50%; ô tô đạt từ 32 - 40%; dệt may đạt 70%; da giày đạt từ 70 - 75%; công nghiệp công nghệ cao đạt khoảng 20%.

Dự kiến sẽ có khoảng 900 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được hỗ trợ tư vấn, đào tạo hệ thống quản trị đạt chuẩn quốc tế, trong đó khoảng 600 doanh nghiệp áp dụng thành công. Khoảng 120 doanh nghiệp được hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và sản xuất thử nghiệm; ít nhất 60 doanh nghiệp triển khai hiệu quả các giải pháp công nghệ mới và tiếp nhận thành công chuyển giao công nghệ.

Chương trình sẽ tập trung thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Nhóm nhiệm vụ về thể chế, pháp luật.

2. Nhóm nhiệm vụ về khoa học - công nghệ, nhân lực và đào tạo.

3. Nhóm nhiệm vụ về xây dựng, nâng cấp, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu.

4. Nhóm nhiệm vụ về phát triển thị trường và truyền thông.

VPCP

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/cong-nghiep-ttcn/phat-trien-cong-nghiep-ho-tro-huong-toi-tu-chu-san-xuat-166058.html