Phát triển công nghiệp văn hóa:Khơi thông nguồn lực, để người dân được hưởng lợi từ di sản
Góp ý dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tại phiên thảo luận tổ chiều 24.10, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Trần Văn Đăng (đoàn Bắc Ninh) nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh để khơi thông nguồn lực sáng tạo, phát triển thị trường văn hóa, đồng thời bảo đảm người dân được thụ hưởng xứng đáng từ những giá trị di sản mà họ đang gìn giữ.

Đại biểu Trần Văn Đăng bày tỏ tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Đưa di sản vào chuỗi giá trị, mở rộng không gian sáng tạo
Đại biểu Trần Văn Đăng bày tỏ tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, coi đây là bước đi quan trọng nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đưa văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đại biểu, Nghị quyết số 33-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa gắn với hoàn thiện thị trường văn hóa. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần một hành lang pháp lý đồng bộ cùng những chính sách mang tính đột phá.
Đánh giá cao việc dự thảo Luật chuyển từ tư duy quản lý các hoạt động văn hóa riêng lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển, đại biểu nhấn mạnh vai trò định hướng, tạo lập môi trường thuận lợi của Nhà nước, đồng thời phát huy vai trò trực tiếp tạo ra giá trị của doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và cộng đồng.
Tuy nhiên, các cơ chế phải cụ thể, khả thi, tháo gỡ được những vướng mắc trong thực tiễn và hài hòa giữa phát triển kinh tế với gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Từ thực tiễn vùng đất Kinh Bắc giàu truyền thống văn hiến, với hệ thống di sản, lễ hội, làng nghề và nghệ thuật dân gian phong phú cùng nhiều địa phương khác, đại biểu Trần Văn Đăng cho rằng dư địa phát triển kinh tế từ văn hóa, du lịch còn rất lớn.
Theo ông, vấn đề không chỉ là thu hút thêm du khách mà phải kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu cho các sản phẩm, dịch vụ văn hóa và nâng cao lợi ích của cộng đồng địa phương.
Nếu kết nối hiệu quả lễ hội với biểu diễn nghệ thuật, trải nghiệm di sản, làng nghề và ẩm thực, các địa phương có thể hình thành chuỗi sản phẩm hấp dẫn, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 8 cơ chế liên kết di tích, lễ hội, làng nghề với biểu diễn, ẩm thực và du lịch để hình thành sản phẩm trọn gói; đồng thời kết nối công tác quản lý lễ hội với hạ tầng văn hóa số, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm môi trường văn minh, an toàn.
Đặc biệt, cần quy định nguyên tắc phân chia lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng; khuyến khích sử dụng nguồn thu từ khai thác hợp pháp giá trị di sản để tái đầu tư cho bảo tồn, tu bổ di tích, hỗ trợ nghệ nhân và phát triển sinh kế.
“Phải làm sao để người dân không chỉ là người gìn giữ di sản mà còn được thụ hưởng xứng đáng từ những giá trị di sản mình đang bảo vệ”, đại biểu nhấn mạnh.
Đối với nguồn nhân lực, ông cho rằng công nghiệp văn hóa đòi hỏi sự kết hợp giữa tài năng nghệ thuật, công nghệ, quản trị và khả năng kinh doanh. Vì vậy, cần đưa kiến thức quản trị dự án, bản quyền và thương mại hóa vào khung năng lực đào tạo; tạo điều kiện để chuyên gia thực tiễn tham gia giảng dạy, hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề tại làng nghề và mở rộng chính sách khởi nghiệp cho các nhóm sáng tạo ngoài khu, cụm công nghiệp văn hóa.
Về hạ tầng, đại biểu đề nghị tận dụng nhà văn hóa, bảo tàng, trung tâm văn hóa, sân vận động và các thiết chế hiện có làm không gian sáng tạo, trình diễn. Đồng thời, nghiên cứu mô hình trung tâm thiết bị dùng chung, giúp doanh nghiệp nhỏ và nhóm sáng tạo tiếp cận phương tiện sản xuất hiện đại với chi phí hợp lý.
Phát triển thị trường, tạo đột phá về cơ chế tài chính

Toàn cảnh phiên thảo luận tại tổ 7
Đề cập thị trường công nghiệp văn hóa, đại biểu Trần Văn Đăng dẫn chứng thành công của các chương trình Anh trai say hi, Anh trai vượt ngàn chông gai và những concert trong nước thời gian qua. Theo ông, điều này cho thấy công chúng, đặc biệt là giới trẻ, sẵn sàng chi trả cho sản phẩm văn hóa được đầu tư nghiêm túc, chuyên nghiệp.
Để phát huy tiềm năng đó, đại biểu đề nghị bổ sung chính sách xây dựng thương hiệu sự kiện, liên hoan nghệ thuật và lễ hội văn hóa mang tầm quốc gia, quốc tế, được tổ chức định kỳ; đồng thời phát triển sản phẩm văn hóa đặc trưng của từng địa phương.
Ông cũng kiến nghị mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ tiếp cận văn hóa, bổ sung công nhân khu công nghiệp, đưa các chương trình nghệ thuật chất lượng đến vùng khó khăn.
Một yêu cầu quan trọng khác là cụ thể hóa cơ chế xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nghệ sĩ, nhà sáng tạo và củng cố niềm tin cho hoạt động đầu tư lâu dài.
Về tài chính, đại biểu chỉ rõ đặc thù của công nghiệp văn hóa là vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi kéo dài, trong khi nhiều doanh nghiệp và nhóm sáng tạo sở hữu tài sản chủ yếu dưới dạng ý tưởng, tác phẩm, quyền sở hữu trí tuệ nên khó tiếp cận tín dụng truyền thống.
Ông đánh giá cao quy định cho phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, đối với các dự án phim, trò chơi hay concert, cần cho phép tổ chức tín dụng xem xét thêm hợp đồng nghệ sĩ, phương án bán vé và khả năng tạo doanh thu khi đánh giá phương án vay vốn.
Dẫn kinh nghiệm của Anh trong áp dụng ưu đãi thuế cho sản xuất điện ảnh, truyền hình và của Pháp trong hình thành nguồn tài chính tái đầu tư cho lĩnh vực điện ảnh, nghe nhìn, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Trong đó, cần xem xét mở rộng chính sách hỗ trợ chi phí sản xuất tại Điều 34 cho các dự án trong nước, thay vì chỉ tập trung vào dịch vụ phục vụ đoàn làm phim nước ngoài; đồng thời nghiên cứu bổ sung nguồn lực hình thành từ chính hoạt động của ngành để tái đầu tư cho sáng tạo.
Đại biểu Trần Văn Đăng nhấn mạnh, điều cốt lõi là xây dựng cơ chế tài chính minh bạch, đúng đối tượng, sử dụng hiệu quả nguồn lực và khuyến khích xã hội hóa. Luật không chỉ cần tạo điều kiện hình thành những sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế mà còn phải thúc đẩy tái đầu tư cho sáng tạo, bảo tồn di sản, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống văn hóa của người dân.
Có như vậy, công nghiệp văn hóa mới thực sự phát triển bền vững, vừa đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, vừa lan tỏa và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam.

