Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số: Biến tiềm năng thành động lực phát triển

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, công nghiệp văn hóa ngày càng được xác định là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, góp phần phát huy sức mạnh mềm quốc gia, xây dựng bản sắc văn hóa và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Đây cũng là nội dung trọng tâm được các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng sáng tạo trao đổi tại Hội thảo khoa học “Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số” do Báo Văn Hóa phối hợp Trường đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5/6 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ nguồn lực nội sinh đến động lực tăng trưởng

Những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn được xem là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác lập rõ vị trí của văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những hướng đi quan trọng nhằm chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quảng bá hình ảnh đất nước.

Theo các ý kiến tại hội thảo, điểm mới trong tư duy phát triển hiện nay là đặt văn hóa trong mối quan hệ gắn bó với kinh tế, công nghệ và thị trường. Công nghiệp văn hóa không đơn thuần là sự gia tăng số lượng sản phẩm văn hóa mà là một hệ sinh thái phát triển, nơi các yếu tố sáng tạo, công nghệ, vốn, thị trường và quản trị cùng tương tác để tạo ra giá trị mới.

Các đại biểu tham gia chia sẻ tại hội thảo.

Các đại biểu tham gia chia sẻ tại hội thảo.

Từ cách tiếp cận đó, phát triển công nghiệp văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa giản đơn các giá trị tinh thần hay chạy theo thị hiếu ngắn hạn. Ngược lại, mục tiêu là nâng tầm các giá trị văn hóa thông qua sáng tạo và ứng dụng công nghệ, tạo ra những sản phẩm vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Việt Nam được đánh giá có nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa. Đó là nền văn hóa lâu đời, giàu bản sắc; hệ thống di sản phong phú; lực lượng sáng tạo trẻ, năng động; cùng thị trường trong nước ngày càng mở rộng.

Trong những năm qua, nhiều lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thiết kế, trò chơi điện tử, nội dung số và du lịch văn hóa đã ghi nhận những bước phát triển tích cực, từng bước hình thành thị trường và tạo sức lan tỏa nhất định.

Tuy nhiên, các đại biểu cũng cho rằng kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Một trong những rào cản lớn hiện nay là hệ thống chính sách và thể chế chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và thị trường. Một số lĩnh vực vẫn chịu tác động của tư duy quản lý hành chính, chưa tạo được môi trường thực sự thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư.

Bên cạnh đó, các vấn đề mới nảy sinh trên môi trường số như quản lý nội dung, bảo vệ bản quyền, khai thác dữ liệu hay phát triển các nền tảng phân phối nội dung số vẫn cần được hoàn thiện về mặt pháp lý.

Nguồn lực đầu tư và hạ tầng cũng là những thách thức đáng chú ý. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi sự đầu tư dài hạn vào thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo, trung tâm sản xuất nội dung, hệ thống dữ liệu và các công cụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, các doanh nghiệp sáng tạo phần lớn có quy mô nhỏ, năng lực tích lũy hạn chế và gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn.

Một điểm nghẽn khác là thị trường văn hóa phát triển chưa đồng bộ. Mối liên kết giữa sáng tạo, sản xuất, quảng bá và tiêu dùng còn lỏng lẻo; nhiều sản phẩm có chất lượng nhưng chưa được thương mại hóa hiệu quả, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh và chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cơ hội bứt phá từ chuyển đổi số

Nếu như trước đây phạm vi tiếp cận của sản phẩm văn hóa chủ yếu bị giới hạn bởi không gian địa lý thì ngày nay công nghệ số đã mở ra những cơ hội phát triển chưa từng có.

Theo các chuyên gia, chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Công nghệ số giúp mở rộng thị trường, giảm chi phí sản xuất, hình thành các mô hình kinh doanh mới và nâng cao khả năng cá nhân hóa sản phẩm.

Một sản phẩm văn hóa có thể tiếp cận hàng triệu người dùng trên toàn cầu chỉ trong thời gian ngắn. Một di sản được số hóa hiệu quả có thể trở thành nguồn tài nguyên cho giáo dục, du lịch, điện ảnh, truyền thông và nhiều ngành kinh tế khác.

Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác định nhiều nhiệm vụ trọng tâm như xây dựng hạ tầng văn hóa số, phát triển nền tảng phân phối nội dung số, số hóa di sản, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong hoạt động sáng tạo, sản xuất và quản lý văn hóa.

Tuy nhiên, cơ hội luôn đi cùng thách thức. Không gian số là môi trường cạnh tranh toàn cầu. Nếu không làm chủ công nghệ, không xây dựng được các nền tảng nội dung trong nước và không bảo vệ hiệu quả bản quyền, dữ liệu, nguy cơ phụ thuộc vào các nền tảng bên ngoài sẽ ngày càng lớn.

Bên cạnh đó, bài toán giữ gìn bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý và phát triển văn hóa.

Một trong những tiết mục văn nghệ đặc sắc chào mừng hội thảo.

Một trong những tiết mục văn nghệ đặc sắc chào mừng hội thảo.

Từ những phân tích trên, nhiều ý kiến cho rằng phát triển công nghiệp văn hóa cần được tiếp cận như một chiến lược tổng thể, lâu dài và mang tính liên ngành.

Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, xây dựng khung pháp lý linh hoạt, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực sáng tạo và môi trường số.

Cùng với đó là phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, bao gồm các không gian sáng tạo, trung tâm sản xuất, nền tảng phân phối, thị trường bản quyền và hệ thống dữ liệu. Chỉ khi các mắt xích này được kết nối hiệu quả, công nghiệp văn hóa mới có thể phát triển bền vững.

Nguồn nhân lực cũng là yếu tố quyết định. Yêu cầu đặt ra là đào tạo đội ngũ vừa có năng lực chuyên môn nghệ thuật, vừa làm chủ công nghệ, có tư duy thị trường và khả năng hội nhập quốc tế. Đồng thời cần có cơ chế khuyến khích sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp và thu hút nhân tài trong lĩnh vực văn hóa.

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh hợp tác công-tư, huy động nguồn lực xã hội, xây dựng các quỹ hỗ trợ sáng tạo và trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa sẽ góp phần tạo thêm động lực cho phát triển.

Trong dài hạn, việc xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia, lựa chọn các lĩnh vực mũi nhọn để đầu tư trọng điểm, gắn kết chặt chẽ với du lịch và ngoại giao văn hóa sẽ là hướng đi quan trọng nhằm đưa các sản phẩm văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế.

Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển mà còn là cơ hội để Việt Nam khẳng định bản sắc, nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Khi những giá trị văn hóa được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển thông qua sáng tạo và công nghệ, văn hóa sẽ thực sự trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Thanh Thảo

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-trong-ky-nguyen-so-bien-tiem-nang-thanh-dong-luc-phat-trien-post967342.html