Phát triển dịch vụ khí hậu, cảnh báo tác động, hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai

Chuyên gia cho rằng Luật Khí tượng thủy văn sửa đổi cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc đến truyền nhận tin và những quản lý dữ liệu đến phân tích, giám sát biến đổi khí hậu, đến dự báo cảnh báo, cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng thủy văn, dịch vụ khí hậu và hỗ trợ ra quyết định. Trong đó, dự báo dựa trên tác động và dịch vụ khí hậu là hai hướng phát triển quan trọng...

Vai trò trọng yếu của ngành là cung cấp thông tin khí tượng thủy văn, cảnh báo sớm, cảnh báo tác động, dữ liệu rủi ro và nền tảng kỹ thuật để cơ quan có thẩm quyền quản trị rủi ro và ra quyết định. Ảnh: Trần Hậu

Vai trò trọng yếu của ngành là cung cấp thông tin khí tượng thủy văn, cảnh báo sớm, cảnh báo tác động, dữ liệu rủi ro và nền tảng kỹ thuật để cơ quan có thẩm quyền quản trị rủi ro và ra quyết định. Ảnh: Trần Hậu

Luật Khí tượng Thủy văn (sửa đổi) đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng. Theo kế hoạch dự kiến, dự án luật sẽ được trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 5/2027.

Thông tin tại hội nghị tham vấn chính sách sửa luật này mới đây, đại diện Cục Khí tượng Thủy văn cho biết có 3 nhóm chính sách lớn được đề xuất trong dự thảo Luật Khí tượng Thủy văn (sửa đổi). Thứ nhất, hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý, khai thác mạng lưới trạm khí tượng thủy văn theo hướng hiện đại, đồng bộ, chuyển đổi từ công nghệ quan trắc truyền thống sang tự động hóa và xã hội hóa nguồn lực đầu tư.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định về công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn phục vụ dự báo tác động; tài nguyên khí hậu. Thứ ba, hoàn thiện thể chế huy động, quản lý và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

CHUYỂN TỪ TƯ DUY QUẢN LÝ DỮ LIỆU SANG QUẢN TRỊ DỮ LIỆU TRONG TOÀN BỘ VÒNG ĐỜI

Góp ý dự thảo luật, GS. Trần Thục, Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam, thống nhất với ba nhóm chính sách đề xuất trên. Tuy nhiên, GS Thục cho rằng nên thiết kế luật theo toàn bộ chuỗi hoạt động của ngành khí tượng thủy văn, đó là quan trắc- truyền nhận và quản trị dữ liệu- phân tích- giám sát biến đổi khí hậu- dự báo, cảnh báo-  cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng tuyến văn, dịch vụ khí hậu và cuối cùng hỗ trợ ra quyết định. Luật cần tạo khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng tuyến văn toàn chuỗi, phân định trách nhiệm và kết nối các cơ chế quản trị rủi ro thiên tai thay vì xử lý từng khâu tương đối tách biệt.

Đặc biệt, theo định hướng tại Thông báo số 117 của Trung ương, cần làm rõ vai trò của hoạt động khí tượng thủy văn trong quá trình chuyển từ ứng phó thiên tai sang quản trị rủi ro thiên tai. Điều này không có nghĩa là Luật khí tượng thủy văn cần điều chỉnh toàn bộ hoạt động quản trị rủi ro thiên tai vì ngành khí tượng thủy văn không trực tiếp quản trị rủi ro thay các bộ/ngành, địa phương.

GS. Trần Thục: "Vai trò trọng yếu của ngành là cung cấp thông tin khí tượng thủy văn, cảnh báo sớm, cảnh báo tác động, dữ liệu rủi ro và nền tảng kỹ thuật để cơ quan có thẩm quyền quản trị rủi ro và ra quyết định". Ảnh: K.Trung

GS. Trần Thục: "Vai trò trọng yếu của ngành là cung cấp thông tin khí tượng thủy văn, cảnh báo sớm, cảnh báo tác động, dữ liệu rủi ro và nền tảng kỹ thuật để cơ quan có thẩm quyền quản trị rủi ro và ra quyết định". Ảnh: K.Trung

Về quan trắc, Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn nhấn mạnh tầm quan trọng của hiện đại hóa, tự động hóa và huy động nguồn lực xã hội hóa cho hoạt động quan trắc nhưng cần phân biệt rõ mạng lưới khí tượng thủy văn quốc gia và hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn quốc gia.

Theo ông, mạng lưới quốc gia do nhà nước đầu tư giao cơ quan quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn ở trung ương quản lý, khai thác và giữ vai trò nền tảng, tham chiếu. Trong khi đó, hệ thống quan trắc quốc gia có thể tích hợp mạng chuyên dùng, mạng của địa phương, doanh nghiệp và các nguồn quan trắc khác nhau nếu đáp ứng yêu cầu chất lượng.

“Không nhất thiết một trạm do doanh nghiệp đầu tư muốn chia sẻ dữ liệu phải trở thành trạm thuộc mạng lưới quốc gia. Trọng tâm quản lý phải là tiêu chuẩn chất lượng dữ liệu, khả năng truy nguyên, kết nối và sử dụng chung”, ông nói. Luật chỉ nên xác lập nguyên tắc quản lý, công nhận, kết nối và trách nhiệm đối với chất lượng dữ liệu; bắt buộc đáp ứng một tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia;...

Một hệ thống quan trắc hiện đại chỉ có giá trị khi dữ liệu được truyền nhận kịp thời, kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa, lưu trữ, kết nối và chia sẻ. Ảnh: VNMHA

Một hệ thống quan trắc hiện đại chỉ có giá trị khi dữ liệu được truyền nhận kịp thời, kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa, lưu trữ, kết nối và chia sẻ. Ảnh: VNMHA

Cũng theo GS Thục, dữ liệu khí tượng thủy văn phải được coi là hạ tầng thông tin dùng chung. Một hệ thống quan trắc hiện đại chỉ có giá trị khi dữ liệu được truyền nhận kịp thời, kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa, lưu trữ, kết nối và chia sẻ.

Luật cần quy định rõ trách nhiệm cung cấp và chia sẻ dữ liệu của các bộ/ngành, địa phương, chủ công trình và các mạng chuyên dụng theo cơ chế bắt buộc kèm chế tài xử lý vi phạm; đồng thời xác định quyền khai thác các dữ liệu cần thiết cho dự báo cảnh. “Nên chuyển từ tư duy quản lý dữ liệu sang quản trị dữ liệu trong toàn bộ vòng đời”, GS Thục góp ý.

DỰ BÁO, CẢNH BÁO DỰA TRÊN TÁC ĐỘNG, PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ KHÍ HẬU

Liên quan đến dự báo, cảnh báo dựa trên tác động, ông Thục cho rằng dự báo truyền thống chủ yếu trả lời câu hỏi là hiện tượng gì sẽ xảy ra, ở đâu, khi nào và cường độ bao nhiêu? Còn dự báo dựa trên tác tác động phải trả lời thêm ai hoặc cái gì sẽ bị ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng ra sao, khả năng vượt mức ngưỡng tác động như thế nào và khi nào cần hành động?

“Đó không phải là việc chỉ bổ sung một đoạn tác động vào quy bản tin dự báo mà là khâu khí tượng thủy văn hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai bằng thông tin khoa học và cảnh báo sớm, không phải thay cơ quan quản lý quyết định biện pháp ứng phó”, GS Thục nhấn mạnh.

Do đây là một nội dung mới và phức tạp nên luật cần quy định rõ lộ trình phân kỳ triển khai. Ông đề xuất trước mắt ưu tiên áp dụng với các hiện tượng thiên tai cực đoan có rủi ro cao như là bão, lũ quét, sạt lở đất, ở các khu vực trọng điểm.

Chuyên gia cho rằng cần xác lập đúng chuỗi dự báo dự trên tác động, đi từ hiểm họa khí tượng thủy văn- phơi bày- dễ bị tổn thương- tác động rủi ro- ngưỡng tín hiệu hỗ trợ quyết định- cơ quan có thẩm quyền quyết định đến hành động.

Chuyên gia cho rằng cần xác lập đúng chuỗi dự báo dự trên tác động, đi từ hiểm họa khí tượng thủy văn- phơi bày- dễ bị tổn thương- tác động rủi ro- ngưỡng tín hiệu hỗ trợ quyết định- cơ quan có thẩm quyền quyết định đến hành động.

Cùng với đó cần phân biệt 3 ngưỡng: ngưỡng hiểm họa khí tượng thủy văn, ngưỡng tác động và ngưỡng kích hoạt hành động. Theo chuyên gia, ba ngưỡng này không đồng nhất. Ngành khí tượng thủy văn chịu trách nhiệm chính về quan trắc, phân tích, dự báo và hiểm họa bao gồm xác suất và mức phân định. Các bộ/ngành và địa phương phải cung cấp dữ liệu về phơi bày, mức độ dễ bị tổn thương, ngưỡng tác động và các thông tin chuyên ngành. Còn cơ quan có thẩm quyền quản lý mới ra quyết định ứng phó.

Vì vậy, luật nên quy định trách nhiệm phối hợp và chia sẻ dữ liệu trong các bộ/ngành, không nên luật hóa một chỉ số, mô hình hay ngưỡng kỹ thuật cụ thể. Việc phân biệt ba ngưỡng nhằm làm rõ trách nhiệm các chủ thể trong chuỗi thông tin quyết định hành động.

Đối với phục vụ công chúng và dịch vụ khí hậu phải được đặt đúng vị trí trong chuỗi khí tượng thủy văn (vai trò này chưa được nhấn mạnh ở luật hiện hành). Chuyên gia phân tích: Giá trị cuối cùng của ngành khí tượng thủy văn không dừng ở việc phát bản tin mà ở thông tin có hỗ trợ được quyết định của người sử dụng hay không. Vì vậy, luật cần tạo hành lang cho dịch vụ công, dịch vụ khí tượng thủy văn chuyên ngành và dịch vụ khí hậu phục vụ nông nghiệp, tài nguyên nước, năng lượng, giao thông, y tế, bảo hiểm, quy hoạch và thích ứng biến đổi khí hậu. "Dịch vụ khí hậu không chỉ là cung cấp số liệu khí hậu, đó là quá trình chuyển tới dữ liệu và tri thức khí hậu thành thông tin phù hợp cho nhu cầu ra quyết định”, ông Thục nhấn mạnh.

Cùng với đó cần phân biệt dự báo, cảnh báo tác động chủ yếu phục vụ quản trị rủi ro thiên tai và các quyết định ngắn đến trung hạn; còn dịch vụ khí hậu có phạm vi rộng hơn cung cấp thông tin khí hậu theo mùa, theo năm, theo dài hạn trong quy hoạch đầu tư sản xuất và thích ứng biến đổi khí hậu.

Do đó, luật nên tạo hành lang pháp lý cho các loại dịch vụ này, không quy định cứng sản phẩm hay phương pháp kỹ thuật. Bên cạnh đó cần bổ sung các cơ chế, chính sách đột phá về nguồn lực như: cho phép ngân sách địa phương tham gia đồng đầu tư hạ tầng quan trắc quốc gia trên địa bàn; luật hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) với công nghệ AI, thiết bị bay không người lái; áp dụng trả lương theo hiệu quả công việc và thuê chuyên gia quốc tế; quy định nguyên tắc xem xét miễn giảm trách nhiệm với các tổ chức cá nhân phát tin dự báo khi đã tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật...

Luật khí tượng thủy văn là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn và xác lập rõ vai trò của thông tin khí tượng thủy văn trong hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai.

Theo Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn, luật cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc đến truyền nhận tin và những quản lý dữ liệu, đến phân tích, giám sát biến đổi khí hậu, đến dự báo cảnh báo, cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng thủy văn và dịch vụ khí hậu và cuối cùng là hỗ trợ ra quyết định. Trong đó, dự báo dựa trên tác động và dịch vụ khí hậu là hai hướng phát triển quan trọng nhưng luật phải giữ đúng vai trò là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn, phân định vai trò và trách nhiệm của chủ thể, huy động nguồn lực, bảo đảm hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ quản trị rủi ro thiên tai.

Tùng Dương

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/phat-trien-dich-vu-khi-hau-canh-bao-tac-dong-ho-tro-quan-tri-rui-ro-thien-tai.htm