Phát triển đồng bộ thị trường vốn của Việt Nam
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào các tổ chức tín dụng, trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển.

Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" tổ chức ngày 23/7 tại Hà Nội
Ngày 23/7, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" nhằm tạo diễn đàn đối thoại chính sách, đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Ông Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, ngày 27/6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm đưa tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, trong đó 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng 11,9%. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn.
Theo đó, cần phải phát triển thị trường vốn đồng bộ và bền vững, thúc đẩy hình thành mô hình dẫn vốn cân bằng hơn giữa hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Ông Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư phát biểu khai mạc hội thảo.
Cấu trúc cung ứng vốn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng
Ngày 27/6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm đưa tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, trong đó 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng 11,9%.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân khoảng 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20%, còn hơn 30 triệu tỷ đồng phải được huy động từ khu vực ngoài ngân sách, bình quân khoảng 6,16 triệu tỷ đồng mỗi năm từ doanh nghiệp, thị trường vốn, hệ thống tài chính và các nguồn quốc tế. Áp lực huy động vốn lớn hơn đáng kể so với giai đoạn trước.

Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước.
Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025; như vậy hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, trong khi nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng.
Theo tính toán, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng, thuộc nhóm cao nhất đối với các nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Điều này đặt ra không ít thách thức trong công tác điều hành, nhất là đối với vấn đề cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Tín dụng trung-dài hạn hiện vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro kỳ hạn và áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
Thị trường chứng khoán – Kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế
Bối cảnh của Việt Nam cho thấy đang phụ thuộc lớn vào nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển.
Hiện nay, khả năng huy động vốn dài hạn qua thị trường cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư và các định chế tài chính quốc tế chưa tương xứng.
Theo số liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025.
Thị trường hiện có 54 doanh nghiệp vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD. Thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP. Tổng giá trị huy động vốn qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp đạt 325,3 nghìn tỷ đồng (tăng 15,83% so với cùng kỳ năm 2025).
Có thể thấy thị trường chứng khoán tiếp tục phát huy vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Theo dự báo của HSBC và Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể thu hút khoảng 8 đến 10 tỷ USD trong dài hạn khi quyết định nâng hạng có hiệu lực.

Ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Uỷban Chứng khoán Nhà nước cho biết, để đạt được và duy trì vị thế thị trường mới nổi theo tiêu chuẩn của các tổ chức xếp hạng uy tín như FTSE Russell hay MSCI, Việt Nam buộc phải tiến hành một cuộc cách mạng sâu sắc về cả tư duy và hành động, trong đó nhấn mạnh việc chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy "quản lý những gì kiểm soát được" sang tư duy "kiến tạo phát triển và quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế".
Cùng với đó, giải quyết triệt để những nút thắt kéo dài, tiêu biểu như yêu cầu ký quỹ trước giao dịch (pre-funding) đối với nhà đầu tư nước ngoài, thực hiện công bố thông tin bằng tiếng Anh, và đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản cho nhà đầu tư nước ngoài tạo điều kiện thông thoáng hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Cửa ngõ huy động nguồn vốn quốc tế cho Việt Nam
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cho rằng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) không thay thế hệ thống ngân hàng hay thị trường chứng khoán trong nước. Vai trò của VIFC là bổ sung một tầng tài chính quốc tế, tạo ra các kênh huy động vốn mà kiến trúc hiện hữu chưa cung cấp đầy đủ: ngoại tệ và đa tiền tệ; vốn có kỳ hạn dài; quỹ hưu trí, bảo hiểm và tài sản quốc gia; tín dụng tư nhân; tài chính dự án; trái phiếu quốc tế; công cụ phòng ngừa rủi ro; và các cấu trúc đầu tư xuyên biên giới.
Ông Nguyễn Hữu Huân đưa ra kịch bản quy mô vốn quốc tế huy động qua VIFC mỗi năm (không phải dự báo chính thức) với ba kịch bản huy động 10, 20 và 30 tỷ USD trong các năm tới, với giả định tỷ giá 26.000 VND/USD. Quy mô tương ứng là 260, 520 và 780 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,4%, 6,8% và 10,1% nhu cầu vốn đầu tư bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Kinh nghiệm từ quốc tế cho thấy một trung tâm tài chính quốc tế không được tạo nên bởi các tòa nhà hoặc ưu đãi đơn lẻ, mà bởi niềm tin thể chế, khả năng thực thi, chiều sâu sản phẩm và hệ sinh thái dịch vụ. VIFC cần tận dụng lợi thế đi sau để xây dựng một mô hình digital-native, gắn với dự án và nền kinh tế thực, thay vì sao chép cấu trúc của các trung tâm đã trưởng thành.
Do đó, theo ông Huân, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cần được xây dựng để trở thành nơi vốn quốc tế được cấu trúc, định giá, bảo vệ và chuyển hóa thành năng lực sản xuất của Việt Nam. Khi mỗi cam kết có thể được chuyển thành giao dịch, mỗi giao dịch được chuyển thành giải ngân và mỗi đồng vốn được đo bằng tác động phát triển, VIFC mới thực sự trở thành cửa ngõ huy động nguồn lực quốc tế phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của đất nước.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/phat-trien-dong-bo-thi-truong-von-cua-viet-nam-post977347.html













