Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững

Nắng hè rực rỡ, đi qua những triền đồi xanh thẫm ở các xã: Lương Sơn, Xuân Thái, Linh Sơn, Thường Xuân..., chúng tôi cảm nhận sức sống mới đang lan tỏa từ những cánh rừng sản xuất.

Người dân xã Ngọc Liên trồng rừng bằng cây keo lai mô.

Người dân xã Ngọc Liên trồng rừng bằng cây keo lai mô.

Trước đây, nhiều hộ dân ở đây quen với cách trồng rừng chu kỳ ngắn, khai thác sớm để trang trải cuộc sống trước mắt, thì nay, từ thực tiễn sản xuất và sự hỗ trợ của các ngành chức năng, ngày càng nhiều chủ rừng đã đầu tư trồng rừng chu kỳ dài, phát triển rừng gỗ lớn bằng cây giống chất lượng cao, cây nuôi cấy mô. Sự thay đổi ấy không đơn thuần là kỹ thuật canh tác, mà là sự chuyển biến trong tư duy kinh tế: từ khai thác nhanh sang đầu tư dài hạn, từ bán gỗ nhỏ giá trị thấp sang tạo vùng nguyên liệu gỗ lớn có giá trị cao, phục vụ chế biến sâu và xuất khẩu.

Tại xã Lương Sơn, mô hình trồng rừng gỗ lớn của ông Hoàng Huy Duy là một minh chứng sinh động. Sau khi lập gia đình, ông Duy được bố mẹ giao 20ha đất lâm nghiệp, trong đó có 6ha rừng tự nhiên. Năm 2013, được cán bộ địa phương tuyên truyền, vận động, gia đình ông quyết định đầu tư trồng 10ha rừng gỗ lớn.

Để “lấy ngắn nuôi dài”, ông Duy thuê thêm đất của các hộ dân trong xã trồng mía, đồng thời vay vốn ngân hàng mở rộng chăn nuôi. Cách làm linh hoạt ấy giúp gia đình có nguồn thu trong thời gian rừng chưa đến kỳ khai thác. Đến năm 2023, sau 10 năm kiên trì chăm sóc, gia đình ông thu hoạch 10ha keo gỗ lớn, có khoản tích lũy đáng kể để xây dựng nhà cửa, mua xe tải phục vụ kinh doanh và tiếp tục tái đầu tư trồng rừng. Từ thực tế sản xuất, ông Duy đúc kết: trồng rừng gỗ lớn với chu kỳ khoảng 10 năm có thể đem lại giá trị kinh tế cao gấp khoảng 3 lần so với trồng rừng gỗ nhỏ.

Từ Lương Sơn, men theo những con đường quanh co, chúng tôi đến với xã Xuân Thái - nơi những vạt rừng xanh nối tiếp nhau mở ra trong nắng. Ở thôn Đồng Yên, ông Phạm Văn Thuật là một trong những hộ dân tiêu biểu trong phát triển kinh tế rừng.

Gia đình ông Thuật nhận khoán 35ha đất lâm nghiệp của Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Như Thanh từ năm 1996, trong đó có gần 3ha rừng tự nhiên. Những năm trước, hơn 30ha rừng sản xuất chủ yếu trồng keo chu kỳ ngắn, hơn 4 năm đã khai thác nên hiệu quả kinh tế thấp. Được cán bộ BQLRPH Như Thanh phân tích lợi ích của trồng rừng gỗ lớn, ông Thuật quyết định chuyển hướng, trồng hơn 10ha rừng gỗ lớn. Sau 10 năm, khi khai thác, hiệu quả kinh tế cao hơn 3 lần so với trồng rừng gỗ nhỏ. Từ thành công đó, ông đã chuyển toàn bộ diện tích rừng sản xuất sang kinh doanh gỗ lớn.

Xã Xuân Thái, có 7.278,19ha rừng tự nhiên và hơn 2.600ha rừng trồng. Nhờ sự đồng thuận của người dân và những chính sách hỗ trợ kịp thời, phong trào trồng rừng sản xuất trên địa bàn xã ngày càng phát triển.

Một trong những điểm sáng trong phát triển kinh tế lâm nghiệp ở xã Xuân Thái là việc kết hợp trồng rừng với chăn nuôi dưới tán rừng, xây dựng các mô hình trang trại, gia trại nông - lâm kết hợp. Nhiều hộ gia đình như ông Đỗ Văn Duyệt, ông Phạm Văn Thuật ở thôn Đồng Yên hay ông Nguyễn Hữu Trọng ở thôn Cây Nghia đã mạnh dạn đầu tư, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đồi rừng, từng bước nâng cao thu nhập và ổn định đời sống.

Thực tiễn từ các mô hình ở Lương Sơn, Xuân Thái cho thấy, bài toán chuyển hóa rừng trồng chu kỳ ngắn sang rừng gỗ lớn hoàn toàn có “lời giải” nếu chủ rừng biết tổ chức sản xuất “lấy ngắn nuôi dài”. Trong thời gian chờ rừng phát triển, người dân có thể kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong mật, trồng cây ngắn ngày dưới tán rừng để vượt qua áp lực sinh kế trước mắt.

Tuy nhiên, phát triển rừng gỗ lớn cũng đặt ra không ít thách thức. Chu kỳ kinh doanh dài hơn khiến chủ rừng phải đối mặt với nhiều rủi ro như thiên tai, gió bão, nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng, sâu bệnh, đổ gãy; trong khi thị trường tiêu thụ gỗ lớn, liên kết thu mua, chế biến, chứng chỉ rừng bền vững và cơ chế chia sẻ rủi ro vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm. Chính vì vậy, để rừng gỗ lớn thực sự trở thành hướng đi bền vững, cần sự “vào cuộc” đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, ngành chức năng và chính người dân.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc BQLRPH Như Thanh, cho biết: Đơn vị đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm hình thành các vùng trồng rừng sản xuất, lâm sản hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh với quy mô lớn, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Trọng tâm là trồng rừng bằng cây lâm nghiệp chất lượng cao, cây nuôi cấy mô để tăng giá trị thu nhập cho chủ rừng.

Giai đoạn 2021-2025, ban đã hướng dẫn, hỗ trợ các hộ nhận khoán trồng mới và trồng lại sau khai thác hơn 1.477ha rừng, trong đó có 153,5ha keo lai mô. 6 tháng đầu năm 2026, ban đã tổ chức cho các hộ nhận khoán trồng lại sau khai thác 183,2ha rừng trồng sản xuất (trong đó keo lai mô 34,8ha); trồng lại rừng phòng hộ sau khai thác theo đám 42,5ha. Đặc biệt, việc BQLRPH Như Thanh được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC cho 3.584,34ha đã góp phần nâng giá trị rừng trồng, tạo điều kiện để sản phẩm gỗ tham gia thị trường quốc tế.

Thực tiễn nhận thấy chính sách hỗ trợ của tỉnh đã tạo thêm động lực quan trọng cho người dân và tổ chức mạnh dạn đầu tư vào giống cây lâm nghiệp chất lượng cao. Ngày 10/12/2021, HĐND tỉnh Thanh Hóa ban hành Nghị quyết số 185/2021/NQ-HĐND về chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân giai đoạn 2022-2025. Theo đó, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng rừng sản xuất bằng cây giống nuôi cấy mô được hỗ trợ 1.300 đồng/cây giống, tối đa không quá 2 triệu đồng/ha, với các điều kiện cụ thể về quyền sử dụng đất, nhận khoán đất rừng sản xuất và quy mô diện tích.

Chăm sóc rừng trồng bằng keo lai mô tại xã Thanh Kỳ.

Chăm sóc rừng trồng bằng keo lai mô tại xã Thanh Kỳ.

Theo ông Thiều Văn Lực, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm: “Ngành kiểm lâm đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc chủ động quy hoạch nguồn giống, hệ thống vườn ươm cây lâm nghiệp, bảo đảm chất lượng phục vụ trồng rừng. Cùng với đó, tăng cường kiểm tra vật liệu giống đưa vào nhân giống, khắc phục tình trạng cây giống kém chất lượng; hướng dẫn kỹ thuật trồng mới rừng; tuyên truyền, vận động người dân, chủ rừng thực hiện các mô hình kinh doanh rừng bền vững, trong đó có mô hình hỗn giao giữa cây gỗ lớn với các loài cây chu kỳ ngắn để bảo đảm thu nhập trước mắt cho chủ rừng khi rừng gỗ lớn chưa đến kỳ khai thác”.

6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh trồng mới và trồng lại sau khai thác 6.700ha rừng tập trung, trong đó có 800ha rừng trồng bằng cây nuôi cấy mô. Tính từ năm 2020 đến đầu tháng 7/2026, các đơn vị, người dân trên địa bàn tỉnh đã trồng mới và trồng lại sau khai thác hơn 8.500ha rừng tập trung bằng cây nuôi cấy mô. Toàn tỉnh đã phát triển ổn định 56.000ha rừng trồng kinh doanh gỗ lớn.

Những con số ấy cho thấy một hướng đi đang từng bước khẳng định hiệu quả. Việc chủ động phát triển rừng gỗ lớn, mở rộng diện tích trồng rừng bằng cây nuôi cấy mô đã góp phần nâng năng suất bình quân rừng trồng từ 16m3/ha/năm (năm 2020) lên 20m3/ha/năm (cuối năm 2025). Thanh Hóa hiện có trên 647.000ha rừng được bảo vệ tốt; độ che phủ năm 2025 đạt 54,09%. Tổng sản lượng khai thác gỗ toàn tỉnh năm 2025 đạt 1,1 triệu tấn, phục vụ chế biến sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; giá trị toàn ngành lâm nghiệp đạt 2.594 tỷ đồng.

Rời những mô hình rừng trồng hiệu quả trong cái nắng gay gắt của mùa hè, điều đọng lại không chỉ là những con số về diện tích, sản lượng, thu nhập. Mà đó là ý chí dám nghĩ, dám làm, khát vọng làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của người dân; là sự bền bỉ của những cán bộ lâm nghiệp bám cơ sở, bám rừng. Những cánh rừng gỗ lớn đang vươn lên đã mở ra hướng đi mới cho kinh tế lâm nghiệp bền vững và hiệu quả hơn. Đó là con đường biến tiềm năng thành nguồn lực, biến rừng thành sinh kế, biến ý chí của người dân thành động lực phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trong giai đoạn mới.

Bài và ảnh: Thu Hòa

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/phat-trien-kinh-te-nbsp-lam-nghiep-nbsp-ben-vung-295047.htm